vanban.org

Bản án 620/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Phạm Thị T về việc xin ly hôn với Ông Lý Minh T

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với Ông Lý Minh T (theo giấy chứng nhận kết hôn số 135 quyển số: 1/2008 của Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/8/2008). Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) con chung tên là Lý Minh T1 , sinh ngày 20/02/2010 và Lý Minh T2, sinh ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Phạm Thị T về việc xin ly hôn với Ông Lý Minh T
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:620/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/6/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Tiên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Cư.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1142/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T ; sinh năm: 1983;

Địa chỉ: 3331/1 P T H, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: 005 BT, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lý Minh; sinh năm: 1980;

Địa chỉ: 2386/2 P T H, Phường S, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2022 nộp Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/10/2022 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ nguyên đơn Bà Phạm Thị T trình bày:

Bà Phạm Thị T và Ông Lý Minh T chung sống với nhau từ năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 26/8/2008. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2017 do không hợp nhau về quan điểm sống, tính cách và Ông T không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Vào tháng 3 năm 2022 Bà T có nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với Ông Lý Minh T và Tòa án thụ lý hồ sơ nhưng Bà T muốn cho Ông T cơ hội sữa chữa để hàn gắn hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con nên Bà T làm đơn rút lại đơn khởi kiện xin ly hôn và Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1099/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2022. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể nào hàn gắn hạnh phúc gia đình; Dù hai bên đã cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không thành, nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà T yêu cầu được ly hôn với Ông Lý Minh T.

Về con chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng chung sống với nhau có 02 (hai) con chung tên là Lý Minh T1 , sinh ngày 20/02/2010 và Lý Minh T2, sinh ngày 09/3/2013, ngoài ra không còn con chung nào khác. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà T. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Lý Minh T1 và Lý Minh T2 không yêu cầu Ông Lý Minh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Phạm Thị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng không có khoản nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn Ông Lý Minh T đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của Bà Phạm Thị T nên Tòa án không thể tiến hành thu thập được lời khai của Ông Lý Minh T và không hòa giải được.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn Bà Phạm Thị T có đơn xin vắng mặt tại phiên

tòa; Bị đơn Ông Lý Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt

lần thứ hai không có lý do

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử theo quy định pháp luật tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn Bà Phạm Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Phạm Thị Thu T.

Bị đơn Ông Lý Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mà vẫn vắng mặt. Do vậy, theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, bị đơn Ông Lý Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng Ông Lý Minh T vắng mặt không có lý do. Do vậy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt Ông Lý Minh T.

.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn yêu cầu ly hôn của Bà Phạm Thị T thì đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên, do bị đơn Ông Lý Minh T hiện cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về các yêu cầu của đương sự:

Xét thấy, Bà Phạm Thị T và Ông Lý Minh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 135, quyển số 1/2008 ngày 26/8/2008) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của nguyên đơn Bà Phạm Thị T cho rằng: Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2017 do không hợp nhau về quan điểm sống, tính cách và Ông T không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Vào tháng 3 năm 2022 Bà T có nộp đơn yêu cầu xin ly hôn với Ông Lý Minh T và Tòa án thụ lý hồ sơ nhưng Bà T muốn cho Ông T cơ hội sữa chữa để hàn gắn hạnh phúc gia đình cùng nhau nuôi dạy con nên Bà T làm đơn rút lại đơn khởi kiện xin ly hôn và Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 1099/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2022. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng không thể nào hàn gắn hạnh phúc gia đình; Dù hai bên đã cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không thành, nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà T yêu cầu được ly hôn với Ông Lý Minh T.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập Ông Lý Minh T đến Tòa để trình bày ý kiến tự khai, tạo điều kiện cho vợ chồng hòa giải, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng Ông Lý Minh T vẫn vắng mặt mà không có lý do và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu T. Điều này thể hiện Ông Lý Minh T đã từ bỏ quyền lợi của mình, không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng trong thời gian dài, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận.

Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng chung sống với nhau có 02 (hai) con chung tên là Lý Minh T1, sinh ngày 20/02/2010 và Lý Minh T2, sinh ngày 09/3/2013, ngoài ra không còn con chung nào khác. Hiện nay hai trẻ đang sống cùng bà Thúy. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) trẻ Lý Minh T1 và Lý Minh T2 không yêu cầu Ông Lý Minh T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trẻ, trẻ tên Lý Minh T1, sinh ngày 20/02/2010 và Lý Minh T2, sinh ngày 09/3/2013, hiện đang sinh sống cùng bà Phạm Thị Thu T, tại địa chỉ: 005 B T, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bản tự khai ngày 29/12/2022 của trẻ Lý Minh T1 và Lý Minh T2 có nguyện vọng được sống với mẹ là Phạm Thị Thu T. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Lý Minh T1 và Lý Minh T2. Để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, việc giao con chung cho Bà Phạm Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho Ông Lý Minh T cho đến khi Bà Phạm Thị T có yêu cầu là phù hợp. Ông Lý Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai có quyền ngăn cản quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình. Nếu sau khi ly hôn Bà Phạm Thị T và Ông Lý Minh T có yêu cầu tranh chấp về người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con thì giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về tài sản chung: Bà Phạm Thị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng không có khoản nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

-Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Phạm Thị T về việc xin ly hôn với Ông Lý Minh T

.

- Về hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với Ông Lý Minh T (theo giấy chứng nhận kết hôn số 135 quyển số: 1/2008 của Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/8/2008).

- Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) con chung tên là Lý Minh T1 , sinh ngày 20/02/2010 và Lý Minh T2, sinh ngày 09/3/2013 cho Bà Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với Ông Lý Minh T cho đến khi Bà T có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Phạm Thị T xác định vợ chồng không có khoản nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng Bà Phạm Thị T

phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0017701 ngày 09/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ