vanban.org

Bản án 62 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Tuyết H đối với ông Nguyễn Anh D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Tuyết H được ly hôn với ông Nguyễn Anh D. Về con chung: Bà Bùi Thị Tuyết H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Như Ý, sinh ngày 11/5/2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Tuyết H ly hôn Nguyễn Anh D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Tuyết H đối với ông Nguyễn Anh D.
  • Căn cứ chính? Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 222 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 62/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-3-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức.

Các Hội Thẩm nhân dân:

1. Bà: Trần Thị Đổi

2. Ông: Nguyễn Chí Lin

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 10/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1280/2022/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST-HN ngày 27/02/2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Tuyết H, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp S, thị trấn H, Đ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Anh D, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp C, xã T, Đ, tỉnh Long An. Tạm trú: ấp S, thị trấn H, Đ, tỉnh Long An. (Bà H có mặt, ông D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 25/12/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị Tuyết H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Anh D chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn vào năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, Đ, Long An. Bà H cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn.

Về con chung: bà H khai bà và ông D có 01 con chung là cháu Nguyễn Như Ý, sinh ngày 11/5/2010. Khi ly hôn, bà H xin được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông D cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Anh D, từ khi Tòa án htu5 lý vụ án cho đến nay, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông D không đến Tòa, không phản hồi gì về yêu cầu ly hôn của bà H.

Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ do nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hào giải.

Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung ý kiến gì thêm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai công khai tại phiên toà, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng, [1.1]. Về thẩm quyền giải quyết

Bà Bùi Thị Tuyết H có đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Anh D. Theo lời trình bày của bà H thì ông D hiện đang cư trú, sinh sống tại thị trấn H, Đ, Long An. Theo quy định tại các điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. [1.2]. Về xét xử vắng mặt

Ông Nguyễn Anh D vắng mặt mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung là đúng với quy định các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về pháp luật áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về nội dung vụ án,

. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Bùi Thị Tuyết H và ông Nguyễn Anh D chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn năm 2021 là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo thì bà H xin ly hôn vì cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai cũng không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ.

Đối với ông D, từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay ông không đến tòa theo giấy triệu tập, không có ý kiến phản hồi về việc bà H xin ly hôn. Tại phiên tòa, ông D vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ cả hai cũng không có thiện chí để hàn gắn, đoàn tụ trong khi bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn và cương quyết xin ly hôn.

Nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông D không còn, cả hai bên cũng không có biện pháp gì để hàn gắn, do vậy việc bà H xin ly hôn là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung:

Bà H khai bà và ông D có 01 con chung là cháu Nguyễn Như Ý, sinh ngày 11/5/2010, hiện con đang sống chung với bà H. Khi ly hôn, bà H. Ông D không có lời khai phản hồi về việc xin nuôi dưỡng con chung của bà H.

Xét thấy, cháu Như Ý đã đủ 07 tuổi, hiện tại đang sống với mẹ. Tại bản tự khai cháu Như Ý có nguyện vọng sống chung với bà H khi cha mẹ ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng của cháu, phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp ông D có tranh chấp về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác nếu có căn cứ.

[3.] Về án phí: Bà Bùi Thị Tuyết H phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 63, 146, 222, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 09, các điều 56, 57, 58, các điều 81, 82, 83, 84, 85 và 86 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Tuyết H đối với ông Nguyễn Anh D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Tuyết H được ly hôn với ông Nguyễn Anh D.

2. Về con chung: Bà Bùi Thị Tuyết H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Như Ý, sinh ngày 11/5/2010.

Ông Nguyễn Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà Bùi Thị Tuyết H không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức hoặc cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Bùi Thị Tuyết H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước nhưng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 7645 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, sang án phí để thi hành.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ