- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T và Bị đơn: Ông Phạm Văn Q,"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn Q. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: /2022/DS-PT Ngày 23/11/2022 “V/v kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Danh Đại
Các Thẩm phán: Lê Quốc Hương và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Trừ Minh Quốc – Là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Mừng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Kiện đòi tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Q định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 50/2022/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Dương Văn N, địa chỉ: Thôn N, xã Nahuyện K, tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn Q, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị H, địa chỉ: số 55- Đ, phường 4, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Phạm Văn Q là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền trình bày:
Đầu năm 2022, ông Nguyễn Văn T có nhờ ông Phạm Văn Q liên hệ người có nhu cầu sang nhượng đất để ông T đến xem đất và nhận sang nhượng đất. Ông T và ông Q thỏa thuận khi biết được lô đất nào chủ cần sang nhượng thì ông Q dẫn ông T đi xem đất, nếu ông T đồng ý nhận sang nhượng đất thì sẽ nhờ ông Q viết giấy đặt cọc (giấy đặt cọc và người nhận sang nhượng đất đều đứng tên ông Q) và được ông Q đã đồng ý. Vì vậy, ngày 28/01/2022 ông T đã nhờ bà Võ Thị Hường chuyển cho ông Q số tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) qua dịch vụ chuyển tiền của Ngân hàng nông nghiệp và phát triền nông thôn chi nhánh huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng đến số tài khoản 5304205094303 tại Ngân hàng Agribank Huyện K, tỉnh Đắk Nông. Tuy nhiên, sau khi ông T đã chuyển tiền thì ông Q không thực hiện theo thỏa thuận. Tại phiên tòa, Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn Q thanh toán số tiền gốc là 800.000.000 đồng, ông T không yêu cầu thanh toán tiền lãi.
Bị đơn ông Phạm Văn Q trình bày:
Ông Q có cô ruột đang chung sống với ông Nguyễn Văn T, vì có mối quan hệ như vậy nên năm 2021 ông Q tin tưởng cho ông T mượn tiền mặt với số tiền là 800.000.000 đồng, việc vay tiền không viết giấy tờ gì. Đến ngày 25/02/2022 ông Q chuyển tiếp vào số tài khoản cho ông T mượn số tiền 180.000.000 đồng. Ông Q công nhận số tiền 800.000.000 đồng ông nhận vào ngày 28/01/2022 là của ông Nguyễn Văn T nhờ bà Võ Thị H đã chuyển khoản cho ông. Nay ông T yêu cầu ông Q thanh toán tiền 800.000.000 đồng do bà H chuyển khoản cho ông vào ngày 28/01/2022 thì ông Q không chấp nhận. Ông Q không yêu cầu phản tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H trình bày:
Ngày 28/01/2022 ông Nguyễn Văn T có nhờ bà H chuyển tiền cho ông Q số tiền 800.000.000 đồng. Số tiền này là của ông T bà không liên quan, tuy nhiên bà nghe ông T nói rằng mục đích chuyển tiền cho ông Q để nhận sang nhượng đất, nếu xem đất hợp lý sẽ đặt cọc để nhận sang nhượng đất.
Tại bản án số: 24/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông đã tuyên xử:
“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Phạm Văn Q phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn T số tiền gốc 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng)”.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/9/2022 ông Phạm Văn Q kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Tòa án giải Q theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của các bên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tại Toà án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 24/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn Q kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là hợp lệ.
. Xét nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:
. Theo Chứng từ giao dịch chuyển khoản tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng ngày 28/01/2022 do nguyên đơn cung cấp và theo lời trình bày của các bên đương sự thể hiện có việc ông T (thông qua bà Võ Thị H) đã chuyển số tiền 800.000.000 đồng cho ông Phạm Văn Q, mục đích ông T chuyển tiền là để nhờ ông Q mua đất tại huyện Krông Nô. Ông Q cũng thừa nhận có nhận số tiền này nhưng ông cho rằng đây là khoản tiền ông T trả cho ông theo khoản vay trước đó. Tuy nhiên ông Q không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có khoản vay này và cũng thừa nhận khi cho vay không lập giấy tờ gì cũng như không có ai làm chứng. Mặt khác, lời trình bày của ông Q tại văn bản trình bày ý kiến ngày 02/5/2022 thể hiện có nội dung ông nhận số tiền 800.000.000 do ông T chuyển mục đích để nhờ ông tìm đất để mua giúp ông T mặc dù ông Q cho rằng ông chỉ ký còn nội dung bản trình bày do người khác viết nhưng ông cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh. Như vậy, lời trình bày của ông T, ông Q là phù hợp với lời trình bày của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như sự thừa nhận của các bên đương sự. Vì vây, có đủ có sở để khẳng định có việc ông T đã chuyển cho ông Q số tiền 800.000.000 đồng nên việc ông T khởi kiện đòi lại số tiền này và Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Q trả lại cho ông T số tiền 800.000.000 đồng là có có sở chấp nhận.
Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở để xem xét.
. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng có của ông Phạm Văn Q. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phạm Văn Q phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Q ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Q số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 166, Điều 280 Bộ luật Dân sự 2015,
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn Q. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 24/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T. Buộc ông Phạm Văn Q phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn T số tiền gốc 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
2. Về án phí:
2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phạm Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 36.000.000 đồng và nộp tại án Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô theo quy định. Hoàn trả ông Nguyễn Văn T số tiền 18.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ktheo biên lai số 0003296, ngày 23/5/2022.
2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu 0003358 ngày 14/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đăk Nông.
“Trường hợp bản án, Q định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - TAND huyện Krông Nô; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký, đóng dấu) Bùi Danh Đại |