vanban.org

Bản án 62

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 20/09/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b bị cáo Bùi Đình M phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ kho n 1 Điều 321; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bùi Đình M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Đình M không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bùi Đình M "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Bùi Đình M phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ kho n 1 Điều 321; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật T tụng hình sự
T A ÁN NH N D N
T NH L M Đ NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 2/2018/HS-PT
Ng : 20-9-2018

NHÂN DANH

N C C NG H A X H I CH NGH A VI T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị Minh Hương

Ông Nguyễn Văn Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - l Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 95/2018/TL-HSPT ngày 16-8-2018 đ i với bị cáo Bùi Đình M do kháng cáo của bị cáo đ i với b n án hình sự sơ thẩm b n án s 13/2018/HSST ngày 26-6-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Đình M, sinh năm 1955 tại H i Phòng; nơi cư trú: thôn Đ, xã P, hu ện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: lớp 5/12; giới tính: nam; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 197 , nhỏ nhất sinh năm 2001.

Tiền sự: không; tiền án: B n án s 06/2015/HSST ngày 10-3-2015 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 09 tháng tù; phạt bổ sung 10.000.000đ về tội “Đánh bạc”; bị cáo chưa chấp hành xong kho n tiền phạt 10.000.000đ; án phí 200.000đ. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

Trong vụ án này còn có người liên quan anh Tĩnh, anh Liên, anh Giang không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị

N I DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy t , xét xử được tóm tắt như sau:

Vào kho ng 19 giờ ngày 11-01-2018, bị cáo M, cùng các anh G, anh Liên, anh T tổ chức ăn nhậu tại nhà ông Trần Văn Ch ở thôn Đồng Tâm, xã Phi Liêng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng (bị cáo M thuê của ông Ch). Đến kho ng 21 giờ cùng ngày, bị cáo M cùng các anh G, anh L, anh T đánh bạc bằng hình thức đánh b i tiến lên, được thua bằng tiền mặt, mức sát phạt từ 10.000đ-20.000đ, đến kho ng kho ng 22 giờ cùng ngày, thì bị lực lượng Công an huyện Đam Rông bắt qu tang.

Tang vật thu giữ bao gồm: Thu trên chiếu bạc s tiền 1.0 0.000đ; 01 bộ b i tú lơ khơ 52 quân; thu trên người các đ i tượng s tiền 1.250.000đ; 06 chiếc điện thoại di động các loại. Ngo i ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 xe mô tô Wave m u đỏ không có biển s (số khung YX110200021522, số máy: LC152FMH 00005903) chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên tạm giữ để xử lý sau. Cơ quan điều tra xác định s tiền 1.250.000đ v 0 chiếc điện thoại di động các loại thu được trên người bị cáo v các đ i tượng, xét không liên quan đến h nh vi đánh bạc, nên đã xử lý vật chứng tr lại cho chủ sở hữu.

Đ i với các anh T, L, G tu có tham gia đánh bạc cùng với bị cáo M, nhưng s tiền đánh bạc dưới năm triệu đồng, qua xác minh lý lịch tư pháp thấy rằng T, L, G chưa có tiền án tiền sự, nên cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt h nh chính 1.000.000đ.

Tại B n án s 13/2018/HSST ngày 26-6-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông tu ên b bị cáo Bùi Đình M phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng kho n 1 Điều 321; điểm s kho n 1 Điều 51; điểm h kho n 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bùi Đình M 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Ngoài ra, b n án còn xử lý vật chứng, tuyên quyền kháng cáo theo qu định pháp luật.

Ngày 06-7-2018 bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo v đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm h kho n 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đ i với bị cáo; căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355; điểm c kho n 1 Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo; gi m mức hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi ăn nhậu xong, đến kho ng 21 giờ ng 11-01-2018, bị cáo M cùng các anh G, anh L, anh T đánh bạc bằng hình thức “đánh b i tiến lên”, được thua bằng tiền mặt, mức sát phạt từ 10.000đ đến 20.000đ, đến kho ng kho ng 22 giờ cùng ngày, thì bị lực lượng Công an huyện Đam Rông bắt qu tang. Đ i chiếu lời khai của bị cáo, lời khai người liên quan anh T, anh L, anh G anh M, anh Q, biên b n phạm pháp qu tang, vật chứng thu giữ, tài liệu nhận thân bị cáo M đã bị Tòa án xử phạt 09 tháng tù; phạt bổ sung 10.000.000đ về cùng tội “Đánh bạc” (b n án s 06/2015/HSST ngày 10-3-2015 của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông), bị cáo chưa chấp hành xong b n án, nay tiếp tục phạm tội “Đánh bạc”. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá to n diện chứng cứ, đã tu ên b bị cáo Bùi Đình M phạm tội “Đánh bạc” theo kho n 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 l có căn cứ.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây nh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự “bị cáo thành khẩn khai báo” qu định điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” qu định điểm h kho n 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 l không đúng. Bởi lẽ, vật chứng thu giữ xác định giá trị tiền dùng vào việc đánh bạc 1.0 0.000đ, trong khi bị cáo đã bị xét xử về tội n chưa xóa án tích l dấu hiệu cấu thành tội phạm lần này, nên cần sửa b n án sơ thẩm, không áp dụng tình tiết tăng nặng như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị l đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo đề nghị gi m nhẹ hình phạt, tuy không có tình tiết gì mới nhưng do cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng không đúng, dẫn đến quyết định mức hình phạt 12 tháng tù là quá nghiêm khắc. Do vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa b n án sơ thẩm, gi m một phần hình phạt cho bị cáo như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị l có căn cứ.

[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ v o điểm b kho n 1 Điều 355; điểm c kho n 1 Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa b n án sơ thẩm; Xử:

1. Tuyên b bị cáo Bùi Đình M phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ kho n 1 Điều 321; điểm s kho n 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bùi Đình M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật T tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Đình M không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm;

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ