- Tranh chấp gì? "Thái Minh Trí - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thái Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyên Vũ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Kim Xuyến
2. Ông Võ Phi Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Thái Minh T, sinh ngày 01/01/1989, tại tỉnh Đồng NaiHoồ Chí NMinhHo62 C; Nơi thường trú: Ấp Thị C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn T1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Mai P, sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Bị cáo bị Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.000.000 đồng đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐXP-MT ngày 02/11/2015 và xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ – XPVPHC-HS ngày 15/12/2015; Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 141/2016/QĐ-TA ngày 28/9/2016 của TAND huyện Nhơn Trạch. Bị cáo bị bắt giữ ngày 28/10/2024, sau đó chuyển sang tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thái Minh T là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy. Lúc 07 giờ ngày 28/10/2024 T thuê xe ôm đi từ nhà thuộc ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai đi đến khu vực ấp C, xã P, huyện N gặp một người tên H (không rõ nhân thân lai lịch) mua ma túy với giá 100.000 đồng, H đưa cho T một mảnh giấy cuộn tròn bên trong có chứa ma túy, T cầm ma túy trên tay đi bộ rồi thuê xe ôm về lại nhà của T để sử dụng. Khi T đang đi bộ đến đoạn Cống công trình thuộc đường L, ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì gặp Công an xã P trên đường tuần tra kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của T đang cầm 01 mảnh giấy cuộn tròn, bên trong có chất bột màu trắng, dạng nén, nên Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Tang vật thu giữ: 01 mảnh giấy cuộn tròn, bên trong có chất bột màu trắng, dạng nén.
Tại bản Kết luận giám định số 2174/KL-KTHS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1799 gam, loại: Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 35/CT.VKSNT ngày 13/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Thái Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Minh T 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù;
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy cuộn tròn, bên trong có chứa ma tuý, được niêm phong sau khi giám định số 2174/KL-KTHS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Đối với người tên H bán ma túy cho T, hiện chưa rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Tại phiên tòa bị cáo Thái Minh T không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo Thái Minh T (sinh ngày 01/01/1989) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thừa nhận: Vào lúc 07 giờ ngày 28/10/2024 T đã có hành vi mua của một người tên H (không rõ nhân thân lai lịch) ma túy (đựng trong 01 tờ giấy cuộn tròn) với giá 100.000 đồng tại ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. T cầm ma túy trên tay đi bộ đến đoạn Cống công trình thuộc đường L, ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì gặp Công an xã P kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Lời thừa nhận của bị cáo Thái Minh T phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai nhân chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy lượng ma túy bị cáo Thái Minh T tàng trữ theo Kết luận giám định số 2174/KL-KTHS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ có khối lượng 0,1799 gam, loại: Heroine và hành vi phạm tội của bị cáo Thái Minh T đã được thực hiện xong.
Nên có đủ căn cứ kết luận: Hành vi của bị cáo Thái Minh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Thái Minh T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bị cáo bị Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.000.000 đồng đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐXP-MT ngày 02/11/2015; bị xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ – XPVPHC-HS ngày 15/12/2015; Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 141/2016/QĐ-TA ngày 28/9/2016 của TAND huyện Nhơn Trạch.
Tội phạm do bị cáo Thái Minh T thực hiện là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương; bị cáo biết rõ việc tàng trữ để sử dụng chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo vẫn thực hiện. Mặt khác bị cáo từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, do đó cần xét xử nghiêm, cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Thái Minh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của chính sách pháp luật hình sự.
Xét lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1799 gam (được niêm phong số 2174/KL-KTHS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ) bị cáo tàng trữ trái phép, cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
Đối với người tên H bán ma túy cho T, hiện chưa rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Thái Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Thái Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Thái Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1799 gam (được niêm phong số 2174/KL-KTHS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ).
Theo biên bàn giao nhận vật chứng ngày 14/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Thái Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TA tỉnh - VKS, THA, CA - Bị cáo; - Lưu HS, VP | (Đã ký) Trần Nguyên Vũ |