- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N-S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2026/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 3 – 2026 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon;
2. Bà Võ Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị N vắng mặt, có đơn xin vắng mặt; anh S vắng mặt, không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn S có chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 09/11/2009, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Tháp). Trước khi kết hôn, anh chị có tự tìm hiểu nhau khoảng 01 tháng. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn.
Chị N và anh S có 02 con chung tên Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 03/11/2008 và Nguyễn Thị Bích H, sinh ngày 02/12/2012. Hiện nay, 02 cháu đang sống với anh S.
Chị N và anh S chung sống với nhau hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, do anh S thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời, không chăm lo cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả. Chị N đã khuyên anh S thay đổi tính tình nhưng anh S không thay đổi. Anh chị đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Từ khi anh chị ly thân đến nay, anh chị không có hàn gắn đoàn tụ. Hiện nay, chị N không còn tình cảm vợ chồng với anh S.
Nay chị Nguyễn Thị N yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Chị N thống nhất giao cháu Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 03/11/2008 và cháu Nguyễn Thị Bích H, sinh ngày 02/12/2012 cho anh S được quyền trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn S không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2, nhưng không đến phiên toà nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử nguyên đơn, bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Anh Nguyễn Văn S cư trú tại ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Chị N vắng mặt có đơn xin vắng mặt, anh S đã được Toà án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh S là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn S chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 09/11/2009, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Tháp). Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn. Việc kết hôn giữa chị N và anh S là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét thấy, chị N trình bày trong thời gian chị N và anh S chung sống với nhau anh chị phát sinh mâu thuẫn do anh S thường xuyên nhậu nhẹt, chơi bời, không chăm lo cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, chị N không còn tình cảm vợ chồng với anh S, không còn muốn hàn gắn, đoàn tụ, chung sống với anh S; Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho anh S biết yêu cầu ly hôn của chị N, nhưng anh S không có ý kiến gửi cho Toà án, cũng như không đến Toà án để hoà giải, hàn gắn với chị N. Điều này chứng minh, chị N và anh S đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, hôn nhân giữa chị N và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Văn S là phù hợp.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn S có 02 con chung tên Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 03/11/2008 và Nguyễn Thị Bích H, sinh ngày 02/12/2012. Xét thấy, chị N thống nhất giao cháu N1 và cháu H cho anh S được quyền trực tiếp nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh S không yêu cầu hay có ý kiến gì về vấn đề nuôi con chung, nhưng cháu N1 và cháu H có ý kiến là đang sống với anh S, 02 cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với anh S. Vì vậy, để tránh việc thay đổi môi trường sống của cháu, đảm bảo cho cháu được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, tiếp tục giao cháu N1 và cháu H cho anh S được quyền trực tiếp nuôi con là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, anh S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N trình bày chị N và anh S tự thoả thuận về tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết, nhưng không có ý kiến của anh S. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung và nợ chung trong vụ án này. Nếu các đương sự có tranh chấp sẽ được Toà án xem xét, giải quyết trong vụ án khác.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn S (đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nay là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Tháp, số 86/2009 ngày 09/11/2009).
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng N1, sinh ngày 03/11/2008 và Nguyễn Thị Bích H, sinh ngày 02/12/2012 cho anh Nguyễn Văn S được quyền trực tiếp nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con, do anh Nguyễn Văn S không yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005335 ngày 20/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Văn S không phải chịu án phí.
Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 11 – Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Bạch Phiến |