- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma tuý - phạm tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2025/HS-ST Ngày 16 - 10 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đắc Hân - Ông Bùi Đình Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án 57/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn T, Sinh năm: 2001; nơi sinh: tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: bản Ngoa, Pú Trạng, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái (nay là phường Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái); nơi ở hiện tại: tổ dân phố 8, phường Thủy Hà, thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (nay là phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng); dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: lao động tự do; họ và tên bố: Trần Văn Luyến (đã chết); họ và tên mẹ: Phùng Thị Thêu, sinh năm 1965; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/5/2025 đến ngày 30/5/2025 chuyển tạm giam. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Cà Văn Cường, sinh năm 2006; Nơi ở hiện tại: KTX2, khu công trường Vinhome Island thuộc phường Thủy Hà, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng (nay là phường Hoà Bình, thành phố Hải Phòng); Văn mặt;
2. Lò Văn Thủy, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Tổ dân phố Lâm Động 3, phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt;
3. Cà Văn Quý, sinh năm 2006; Nơi cư trú: số 19/42 Hùng Duệ Vương, phường Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt;
Người chứng kiến:
1. Trịnh Anh Tuấn, sinh năm 1988; Nơi cư trú: tổ dân phố Hà Tây, phường Thủy Hà, thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (nay là phường Hoà Bình, thành phố Hải Phòng); Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 23/5/2025, tại khu nhà đang xây dựng thuộc phân khu Quý Tộc, khu đô thị Vũ Yên địa chỉ tổ dân phố 8, phường Thủy Hà, thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (nay là phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng) Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng bắt quả tang Trần Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra thu giữ tại túi quần phía sau bên phải của Trần Văn T 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 40 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh tím than đã qua sử dụng. Thời điểm kiểm tra, tại nơi ở của Trần Văn T còn có Cà Văn Cường, Lò Văn Thủy và Cà Văn Quý, đều sinh năm 2006, trú tại KTX2, khu công trường Vinhome Island thuộc phường Thủy Hà, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng (nay là phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng). Cơ quan Công an đã đưa Trần Văn T cùng các đối tượng liên quan và vật chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở và khu vực có liên quan của Trần Văn T, Cơ quan Công an thu giữ: 01 kéo cán nhựa màu đỏ dài 20cm và 30 mảnh giấy bạc kích thước 03cmx03cm .
Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy, kết quả: Cà Văn Cường, Lò Văn Thủy và Cà Văn Quý dương tính với chất ma tuý Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số 325/KL-KTHS ngày 27/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của Thắng là ma tuý, có khối lượng 2,76 gam, loại Heroine (bút lục số 25).
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận: Do nghiện ma túy và không có việc làm ổn định, Thắng nảy sinh ý định mua ma túy Heroin về bán kiếm lời. Tối ngày 18/5/2025, tại khu vực chân cầu Vũ Yên, thuộc phường Thủy Hà, thành phố Thủy Nguyên, Hải Phòng (nay là phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng) Thắng mua của một nam giới tên Tuấn (chưa xác định được nhân thân lai lịch) 2.000.000 đồng ma túy Heroine, Thắng mang về chỗ ở chia nhỏ số ma túy đã mua được thành 36 phần và đóng gói trong các mảnh giấy bạc mục đích để vừa sử dụng vừa bán với giá 200.000 đồng/gói. Số ma túy trên, Thắng đã sử dụng hết 07 gói và bán được 25 gói. Đến ngày 22/5/2025, thấy chỉ còn 04 gói ma túy nên Thắng tiếp tục mua của Tuấn 1.800.000 đồng ma túy Heroine và về chia nhỏ thành 36 gói để bán. Tại chỗ ở của mình Thắng đã bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho nhiều người nhưng chỉ nhớ 05 lần cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: khoảng 20 giờ ngày 18/5/2025, Thắng bán cho Cà Văn Cường 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng.
Lần thứ hai: khoảng 20 giờ ngày 18/5/2025, Thắng bán cho Cà Văn Quý 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng.
Lần thứ ba: khoảng 20 giờ ngày 20/5/2025, Thắng bán cho Cà Văn Cường 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng.
Lần thứ tư: khoảng 20 giờ ngày 20/5/2025, Thắng bán cho Cà Văn Quý 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng.
Lần thứ năm: khoảng 21 giờ 45 phút ngày 23/5/2025, Thắng đang ở chỗ ở của mình thì Cà Văn Cường, Lò Văn Thủy và Cà Văn Quý cùng đến hỏi mua mỗi người 01 gói ma túy Heroine, Thắng đồng ý bán nhưng chưa kịp giao dịch thì lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên (bút lục số 68 đến 82).
Lời khai của bị can Trần Văn T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của các đối tượng mua ma túy của Thắng là Cà Văn Cường, Lò Văn Thủy và Cà Văn Quý (bút lục số 35 đến 41, số 43 đến 47, số 49 đến 58) phù hợp với lời khai người làm chứng (bút lục số 30 đến 33), Kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng: 01 bì giấy niêm phong số 325MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh tím than, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 kéo cán nhựa màu đỏ dài 20cm, 30 mảnh giấy bạc kích thước (03x03)cm chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Hải Phòng quản lý.
Tại bản Cáo trạng số 164/CT – VKSTN ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hải Phòng truy tố Trần Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà trình bày quan điểm: Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội và cùng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” ; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 325 MT/PC09 chứa chất ma tuý còn lại sau giám định, 01 kéo cán nhựa màu đỏ; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 30 mảnh giấy bạc; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh tím than (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Hải Phòng); truy thu số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) bị cáo bán ma tuý mà có trong 02 ngày (18/5/2025 và ngày 20/5/2025). Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Bản kết luận giám định số 325/ KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ đủ căn cứ xác định: Để có tiền sử dụng, bị cáo Trần Văn T đã nhiều lần thực hiện hành vi mua ma tuý về bán lại cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời. Trong vụ án này xác định bị cáo Trần Văn T đã 05 lần thực hiện việc mua bán ma tuý: Lần thứ nhất: khoảng 20 giờ ngày 18/5/2025, bị cáo Thắng bán cho Cà Văn Cường 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng; lần thứ hai: khoảng 20 giờ ngày 18/5/2025, bị cáo Thắng bán cho Cà Văn Quý 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng; lần thứ ba: khoảng 20 giờ ngày 20/5/2025, bị cáo Thắng bán cho Cà Văn Cường 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng; lần thứ tư: khoảng 20 giờ ngày 20/5/2025, bị cáo Thắng bán cho Cà Văn Quý 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng; lần thứ năm: khoảng 21 giờ 45 phút ngày 23/5/2025, Thắng đang ở chỗ ở của mình thì Cà Văn Cường, Lò Văn Thủy và Cà Văn Quý cùng đến hỏi mua mỗi người 01 gói ma túy Heroine, Thắng đồng ý bán nhưng chưa kịp giao dịch thì lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.
Hành vi của bị cáo Trần Văn T đã thoả mãn cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hải Phòng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của nhà nước. Hiện nay loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội, ma tuý đang là hiểm hoạ lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khoẻ của con người và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Thắng sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây thuộc tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân:
Bị cáo Trần Văn T không có tiền án, tiền sự.
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức án tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hải Phòng mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo Thắng không có tài sản riêng, không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 01 phong bì niêm phong số 325MT/PC09 chứa chất ma tuý còn lại sau giám định; 01 kéo cán nhựa màu đỏ; 30 mảnh giấy bạc; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. Đây xác định là vật nhà nước cấm lưu hành, là vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh tím than, xác định là tài sản của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01 tháng 10 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Hải Phòng);
- Truy thu số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) bị cáo Thắng đã bán ma tuý mà có trong 02 ngày (ngày 18/5/2025 và ngày 20/5/2025).
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo Trần Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 09 (Chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 5 năm 2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 325MT/PC09 chứa chất ma tuý và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 kéo cán nhựa màu đỏ; 30 mảnh giấy bạc; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh tím than.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01 tháng 10 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Hải Phòng);
- Truy thu bị cáo Thắng số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) tiền bán ma tuý mà có trong 02 ngày (ngày 18/5/2025 và ngày 20/5/2025).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án, tự nguyện thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; -TAND thành phố HP - VKSND khu vực 1- Hp; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố HP; - Phòng THADS Khu vực 1- TPHP; - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |