vanban.org

Bản án 62/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hiếu P phạm “Tội mua bán trái phép chất ma tuý”.

Phạt bổ sung bằng phạt tiền bị cáo Phạm Hiếu P 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Hiếu P để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hiếu P phạm “Tội mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 62/2024/HS-ST
Ngày: 09-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Văn Huệ

2. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Sơn Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 532/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Hiếu P (B); sinh ngày: 30 tháng 6 năm 1982; tại: Tỉnh H; Hộ khẩu thường trú: Số 3x/x LY, phường TL, Thành phố H1, tỉnh H; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn N; và bà Lê Thị Phụng H2; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày: 20/10/2023. (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo: Ông Đào Quang H3, Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH MTV A, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Người làm chứng:

- Anh Võ Đăng C, sinh năm 1965. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 74 M, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 11x/x Quốc lộ 1A, MH, TP, Bến Tre.

- Anh Nguyễn Hoàng H4, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 4x NĐK, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Phạm Hiếu P nảy sinh ý định mua ma túy để bán lại cho người nghiện nhằm hưởng lời. Ngày 07/01/2012, P mua 30 viên thuốc lắc với giá 170.000 đồng/01 viên và 04 gói Ketamine với giá 200.000 đồng/01 gói của 01 đối tượng là thanh niên tên H5 (chưa rõ lai lịch); P bán cho người nghiện với giá 200.000 đồng/01 viên thuốc lắc, hưởng lợi 30.000 đồng/01 viên và 500.000 đồng/01 gói Ketamine, hưởng lợi 300.000 đồng/01 gói; P đã bán được 13 viên thuốc lắc cho người nghiện (chưa rõ lai lịch). Đến tối ngày 14/01/2012, P mua thêm 11 viên thuốc lắc của Đỗ Huy Q rồi cất giữ trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 7xFx – 31xx sau đó gửi xe tại bãi xe số 50 Đồng Khởi, phường Bến Nghé, Quận 1. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/01/2012, P vào bãi xe trên để lấy ma túy thì bị các anh Võ Đăng C, Nguyễn Hoàng H4 (là Công an và dân phòng phường Bến Nghé, Quận 1) phát hiện P có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra, thu giữ bên trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 7xFx – 31xx 01 hộp kẹo Doublemint màu xanh bên trong có 28 viên nén màu vàng và 04 bịch nylon chứa tinh thể màu trắng (P khai tất cả là ma túy) nên đã bắt giữ P cùng vật chứng đưa về trụ sở Công an phường Bến Nghé, Quận 1 để điều tra làm rõ nhưng sau đó P đã bỏ trốn.

Ngày 24/5/2012, Tòa án nhân dân Quận 1 đã xét xử Đỗ Huy Q; riêng Phạm Hiếu P sau khi phạm tội đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã ra Quyết định truy nã bị can. Đến ngày 20/10/2023, P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 bắt giữ.

Theo Kết luận giám định số 238/KLGĐ-H ngày 02/02/2012 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh:

Gói 1: 28 viên nén màu vàng, hình tròn, có in hình logo không rõ trong 01 hộp kẹo hiệu Doublemint được niêm phong có chữ ký ghi tên Phạm Hiếu P và hình dấu Công an phường Bến Nghé, Quận 1 có trọng lượng 6,0136g chứa MDMA.

Gói 2: Tinh thể màu trắng trong 04 gói nylon được niêm phong có chữ ký ghi tên Phạm Hiếu P và hình dấu Công an phường Bến Nghé, Quận 1 có trọng lượng 3,4112g là Ketamine.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hiếu P khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của P phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng; kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) chứng minh nhân dân số 024097292 tên Lê Quốc D.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352301457521678.

- 01 xe mô tô biển kiểm sát hiệu Honda Wave biển kiểm soát 7xFx – 31xx qua xác minh do chị Nguyễn Thị H6 đứng tên sở hữu nhưng hiện chưa rõ chị H6 đang ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai; P khai mua xe mô tô trên của 01 đối tượng (chưa rõ lai lịch) vào năm 2011.

- Số tiền 4.800.000 đồng.

- 01 (một) bóp da màu đen.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Qmobile màu đen bạc, số Imei: 356747040531077.

- 01 (một) chứng minh nhân dân tên Phạm Hiếu P.

Hiện các vật chứng còn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ. Đối với các vật chứng khác đã được xử lý theo Bản án số 106/2012/HSST ngày 24/5/2012 của Tòa án nhân dân Quận 1.

Đối với hành vi Phạm Hiếu P thay ảnh chứng minh nhân dân tên Lê Quốc D bằng ảnh của P, qua điều tra xác định đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi của P không cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 không xử lý là có cơ sở.

Tại Bản Cáo trạng số 58/CT-VKS-Q1 ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo Phạm Hiếu P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Phạm Hiếu P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Hiếu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, cùng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù, phạt tiền 10.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đối với ma túy đã được xử lý tại Bản án số 106/2012/HSST ngày 24/5/2012, tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Qmobile màu đen bạc, số Imei: 356747040531077; thông báo tìm chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm sát hiệu Honda Wave biển kiểm soát 7xFx – 31xx, nếu không tìm được thì tịch thu sung quỹ; 4.800.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả cho bị cáo; tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bóp da màu đen, 01 (một) chứng minh nhân dân số 024097292 tên Lê Quốc D.

Luật sư ông Đào Quang H3 bào chữa cho bị cáo không có ý kiến về tội danh và điều luật truy tố. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm phát hiện tội phạm là Đỗ Huy Q. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Bị cáo Phạm Hiếu P không tranh luận, bào chữa. Bị cáo Phạm Hiếu P nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Hiếu P phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo Phạm Hiếu P đã có có hành vi cất giữ 6,0136g chứa MDMAvà 3,4112g Ketamine, tổng cộng 9,4248g ma túy ở thể rắn, nhằm mục đích bán cho người nghiện nhằm hưởng lời. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Phạm Hiếu P đã phạm “Tội mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 căn cứ Điều 1, 2 Nghị quyết 41/2017QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, do tính chất đặc biệt của chất ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội. Nhà nước ta cũng như cả thế giới đều ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, mọi hành vi trái pháp luật liên quan đến ma túy đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm khắc nếu có vi phạm. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ ma tuý nhằm mục đích mua bán. Vì vậy, cần xử lý bị cáo thật nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm phát hiện tội phạm, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p, q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, nên chấp nhận một phần lời bào chữa của Luật sư để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất tội phạm và tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần áp dụng hình thức phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Ma túy thu giữ gồm: Gói 1: 28 viên nén màu vàng, hình tròn, có in hình logo không rõ trong 01 hộp kẹo hiệu Doublemint được niêm phong có chữ ký ghi tên Phạm Hiếu P và hình dấu Công an phường Bến Nghé, Quận 1 có trọng lượng 6,0136g chứa MDMA; Gói 2: Tinh thể màu trắng trong 04 gói nylon được niêm phong có chữ ký ghi tên Phạm Hiếu P và hình dấu Công an phường Bến Nghé, Quận 1 có trọng lượng 3,4112g là Ketamine đã được xử lý tại Bản án số 106/2012/HSST ngày 24/5/2012 Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Qmobile màu đen bạc, số Imei: 356747040531077 sử dụng vào việc mua bán ma túy, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- 01 xe mô tô biển kiểm sát hiệu Honda Wave biển kiểm soát 7xFx – 31xx qua xác minh do chị Nguyễn Thị H6 đứng tên sở hữu nhưng hiện chưa rõ chị H6 đang ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai; P khai mua xe mô tô trên của 01 đối tượng (chưa rõ lai lịch) vào năm 2011. Xét thấy xe hiện không xác định được chủ sở hữu, cần thông báo tìm chủ sở hữu, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Số tiền 4.800.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352301457521678 không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả cho bị cáo.

- 01 (một) chứng minh nhân dân số 024097292 tên Lê Quốc D, bị cáo mua để sử dụng khi trốn truy nã, cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) chứng minh nhân dân tên Phạm Hiếu P cần trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) bóp da màu đen không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Hiếu P phạm “Tội mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 194; điểm p, q khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Phạm Hiếu P 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.

Phạt bổ sung bằng phạt tiền bị cáo Phạm Hiếu P 5.000.000 (Năm triệu) đồng.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Hiếu P để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Qmobile màu đen bạc, số Imei: 356747040531077.

+ Trả cho bị cáo Phạm Hiếu P: Số tiền 4.800.000 (Bốn triệu tám trăm ngàn) đồng, 01 (một) chứng minh nhân dân tên Phạm Hiếu P, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 352301457521678.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bóp da màu đen, 01 (một) chứng minh nhân dân số 024097292 tên Lê Quốc D.

+ Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của xe mô tô biển kiểm soát hiệu Honda Wave biển kiểm soát 7xFx – 31xx, số khung: LG5XCHLC8Y2001xxx, số máy: 152FM-00003xxx. Hết thời hạn 01 năm mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu chiếc xe để sung quỹ Nhà nước.

(Phiếu nhập kho vật chứng số 106/12/PNK-CAQ1 ngày 27/3/2012 và 49/2024-PNK-THAHS ngày 07/02/2024 tại Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Phạm Hiếu P chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ