vanban.org

Bản án 62/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ Tuyên án 22/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn P phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn P phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn P phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THẠNH
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:62/2024/HS-ST
Ngày 22- 11- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Thị Ánh Tuyết;

Bà Đoàn Sơn Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn P, sinh ngày 01 tháng 01 năm1985 tại: V, Cần Thơ; Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (không xác định được năm sinh và năm chết) và bà Lê Thị H, sinh năm: 1953 (sống); có vợ Nguyễn Thị C, sinh năm: 1986 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023; Anh chị em ruột có 05 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Bà Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1989. Có mặt.

Ông Lê Tấn P1, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Phạm Thị Tuyết H1, sinh năm 1988. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ

Ông Trần Minh C1, sinh năm 1967. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu V T, Phường T, Quận T, thành phố Cần Thơ

Người làm chứng:

Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1992. Vắng mặt.

Ông Phạm Thanh T1, sinh năm 1995. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ

Ông Dương Văn H2, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 55 phút ngày 29/6/2024, Phạm Văn P điều khiển xe mô tô biển số 65P4 – 9860 chở theo anh Dương Văn H2 và anh Phạm Thanh T1 chạy trên tuyến lộ nông thôn T3 theo hướng từ xã V ra quốc lộ H, khi đến khu vực thuộc ấp V, xã V thì va chạm với xe mô tô biển số 59C1- 884.90 do chị Lê Thị Cẩm H3 điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả làm hai xe mô tô ngã xuống đường bị hư hỏng, anh H2, anh T1 bị thương tích nhẹ, P và chị H3 bị thương nặng được chuyển đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ đến ngày 03/7/2024 thì Phường xuất viện, riêng chị H3 do thương tích nặng đã tử vong lúc 10 giờ 48 phút ngày 30/6/2024.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Bản thân không có giấy phép lái xe và trong ngày 29/6/2024 có uống rượu tại nhà anh Phạm Thanh T1 tại ấp V, xã V, khoảng 1,5 lít rượu thì P điều khiển xe mô tô chở ba về nhà P, khi chạy được khoảng 700 mét do không làm chủ được tay lái nên đã đâm qua phần đường bên trái đụng vào xe ngược chiều. Phường xác định H2 với T1 ngồi sau không không có hành động gì gây khó khăn cho Phường khi lái xe mà nguyên nhân xảy ra tai nạn là do P điều khiển xe trong tình trạng uống nhiều rượu, chở ba người, tự lạc tay lái dẫn đến đụng vào xe ngược chiều. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý H2 và T1 là có cơ sở.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 65P4-9860 của bị cáo; 01 xe mô tô biển số 59C1- 884.90 của bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã làm đơn xin bãi nại và không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 105/KLGĐTT-PC09 ngày 10/7/2024 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận: nạn nhân Lê Thị Cẩm H3, sinh năm 1992, tử vong do xuất huyết não, sau chấn thương sọ não nặng.

Tại Bản kết luận giám định số:179/KLGĐTT-PC09 ngày 10/7/2024 của Phòng K - Công an thành phố C, kết luận: mẫu máu trong ống nghiệm dán nhãn ghi “Lê Thị Cẩm H3, 1992, 30/6/2024” không tìm thấy thành phần Ethanol (cồn).

Căn cứ phiếu xét nghiệm lúc 01 giờ 55 phút ngày 30/6/2024 của Bệnh viện Đ, kết quả: Định lượng Ethanol (cồn)/máu của P là 2.83 g/l.

Tại Cáo trạng số 62/CT-VKSVT ngày 07/10/2024 và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ có phân tích mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, yếu tố lỗi và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Văn P2 phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn P mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị công nhận bị cáo và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong cho đại diện gia đình bị hại với tổng số tiền 80.000.000 đồng, gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại và không yêu cầu gì thêm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự, có xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và mong bị cáo biết sai để không gây hậu quả thương tâm thêm cho bất kì người nào khác. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, khi được nói lời nói sau cùng, bị cáo đã gửi lời xin lỗi đến gia đình của bị hại và đã hối hận về hành vi phạm tội của mình nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với việc đại diện bị hại ông Lê Tấn P1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Tuyết H1, ông Trần Minh C1. Người làm chứng ông Phạm Thanh T, ông Phạm Thanh T1, ông Dương Thanh H4 tất cả đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là có cơ sở.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hơp với các biên bản ghi lời khai, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định vào khoảng 21 giờ 55 phút ngày 29/6/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65P4-9860 lưu thông trên tuyến lộ nông thôn T3 theo hướng từ xã V ra quốc lộ H, khi đi đến khu vực ấp V, xã V, huyện V, thành phố Cần Thơ, thì không quan sát chú ý phía trước, đang trong tình trạng có sử dụng rượu nên đã không làm chủ được tay lái chạy lấn qua phần đường ngược chiều và điều khiển xe không có giấy phép lái xe theo quy định, đụng vào xe bà Lê Thị Cẩm H3 đang điều khiển gây tai nạn hậu quả bà H3 tử vong sau khi đến bệnh viện do xuất huyết não, sau chấn thương sọ não nặng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, gây thiệt hại tính mạng của người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan cho bị cáo.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp vô ý nhưng lỗi là thuộc hoàn toàn do bị cáo chạy xe không thực hiện đúng các quy định pháp luật về giao thông đường bộ, chủ quan khi lái xe, không chú ý quan sát phía trước, sử dụng rượu, chở ba vượt quá số người quy định và không có giấy phép lái xe lấn sang phần đường bên trái do bị hại điều khiển xe chạy chiều ngược lại gây tai nạn giao thông hậu quả làm chết người nên bị cáo phải gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi của mình gây ra.

Xét thấy, vấn đề hạn chế giảm thiếu tai nạn giao thông ở mức thấp nhất để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông cho xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương. Các phương tiện thông tin truyền thông cũng tuyên truyền sâu rộng đến quân chúng nhân dân về tuân thủ Luật giao thông, đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông đường bộ nên có thể khẳng định bị cáo ý thức được hành vi lái xe không giấy phép, sử dụng rượu gây chết người của mình là vi phạm pháp luật nên cần có mức án nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đồng thời, bị cáo cũng có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần bị cáo chăm sóc, nhân thân bị cáo cũng là người tốt chưa có tiền án tiền sự nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình bị hại tổng số tiền là 80.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ, có đơn xin bãi nại, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện V đã trả lại 01 xe máy (mô tô) biển số 65P4- 9860 nhãn hiệu Wave 110 màu đỏ đen, số mãy VTT1P52FMHZ004487; số khung RRKWCH4UM5X004487 cho bị cáo Phạm Văn P. Trả lại 01 xe máy (mô tô) biển số 59C1- 884.90, nhãn hiệu SH Mode, màu sơn đỏ đen, số máy JF51E0890979; số khung RLHJF5131GZ310690, 01 chiếc bông tai kim loại màu vàng, có gắn hai hột đá màu trắng- đen cho người nhận là ông Lê Tấn P1 là chồng của bị hại.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn P phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Phạm Văn P phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được thông báo, niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ