vanban.org

Bản án 62/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị M. 1. Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị M được ly hôn với ông Phạm Ngọc N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn M - N"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà M; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 5 - 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôi và bà Hoàng Thị Bích Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 651/2023/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1979;

- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc N, sinh năm 1977;

Cùng nơi cư trú: Tổ Y, Ấp X, xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ghi ngày 24/11/2023 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Thị M trình bày:

Bà và ông Phạm Ngọc N tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/12/1996. Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cãi vã với nhau nhiều lần và do ông N không có trách nhiệm với gia đình. Từ năm 2017, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài làm tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Ngọc N.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà và ông Phạm Ngọc N có 05 (năm) con chung là Phạm Trung S - sinh năm 1997, Phạm Thị Mai L - sinh năm 1999, Phạm Thị Thùy T - sinh năm 2002, Phạm Thị Quỳnh A - sinh ngày 20/01/2008 và Phạm Gia B - sinh ngày 17/8/2012. Khi ly hôn, đối với cháu S, cháu L và cháu T đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và cháu B và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng bà không có nợ chung bất kỳ ai nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại Bản tự khai ngày 05/4/2024 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, bị đơn ông Phạm Ngọc N trình bày:

Ông và bà Hoàng Thị M tự nguyện đăng kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 1996. Vợ chồng sống chung đến năm 2017 thì sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống chung, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau do bản thân ông quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên về đánh đập vợ con. Nay bà M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông mong muốn hòa giải để vợ chồng tiếp tục chung sống với nhau nên ông không đồng ý ly hôn với bà Hoàng Thị M.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 05 (năm) con chung là Phạm Trung S - sinh năm 1997, Phạm Thị Mai L - sinh năm 1999, Phạm Thị Thùy T - sinh năm 2002, Phạm Thị Quỳnh A - sinh ngày 20/01/2008 và Phạm Gia B - sinh ngày 17/8/2012. Khi ly hôn, đối với cháu S, cháu L và cháu T đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông đồng ý giao cháu A và cháu B cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu.

Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung bất kỳ ai nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Căn cứ: Điều 40, 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 92, 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà Hoàng Thị M được ly hôn với ông Phạm Ngọc N; về con chung: Giao Phạm Thị Quỳnh Anh, sinh ngày 20/01/2008 và Phạm Gia B , sinh ngày 17/8/2012 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng; ông N không cấp dưỡng nuôi con do bà M không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Xác định thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Ngọc N cư trú tại Ấp X, xã P L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Xác định quan hệ pháp luật: Bà M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông N và được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xác định tư cách đương sự: Bà M khởi kiện đối với ông N. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà M là nguyên đơn, ông N là bị đơn trong vụ án.

Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:

Về hôn nhân: Các đương sự tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Núi Tượng, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40, ngày 16 tháng 12 năm 1996. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, khi bà M yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Bà M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng ông N không đồng ý ly hôn với bà M. Xét thấy, trong thời gian sống chung, các đương sự có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xô sát với nhau do bất đồng quan điểm và ông N có tình cảm với người phụ nữ khác; các đương sự sống không hạnh phúc và đã sống ly thân kéo dài từ năm 2017 cho đến nay.

Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con và cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự có 05 (năm) con chung là Phạm Trung S - sinh năm 1997, Phạm Thị Mai L - sinh năm 1999, Phạm Thị Thùy T - sinh năm 2002, Phạm Thị Quỳnh A - sinh ngày 20/01/2008 và Phạm Gia B - sinh ngày 17/8/2012. Đối với cháu S, cháu L và cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Tòa án không giải quyết; Đối với cháu A và cháu B , xét thấy từ khai các đương sự sống ly than thì cháu A và cháu B do bà M trực tiếp nuôi dưỡng và đều có nguyện vọng được sống cùng với bà M; bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và cháu B và ông N cũng đồng ý giao cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, giao cháu A và cháu B cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng là đúng pháp luật. Bà M không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147; khoản 1 Điều 227; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 40, 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986;

- Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị M.

1.1. Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị M được ly hôn với ông Phạm Ngọc N.

1.2. Về con và cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự có 05 (năm) con chung là: Phạm Trung S - sinh năm 1997, Phạm Thị Mai L - sinh năm 1999, Phạm Thị Thùy T - sinh năm 2002, Phạm Thị Quỳnh A - sinh ngày 20/01/2008 và Phạm Gia B - sinh ngày 17/8/2012. Đối với cháu S, cháu L và cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Tòa án không giải quyết; giao cháu A và cháu B cho bà M trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà M không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.

Các đương sự có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Bà Hoàng Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà M đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0012836 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà M đã nộp đủ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thờ i hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.

Cỡ chữ