- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn chị Lương Thị H và bị đơn anh Kha Văn K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Kha Văn K;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2024/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 8 năm 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Lang Thanh Lương;
2, Ông La Khăm Ỏn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu; Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Và Bá Của - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐST-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1995;
Nơi cư trú: bản YH, xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An;
Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Kha Văn K, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: bản YH, xã ML, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 3 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Lương Thị H, trình bày: Chị Lương Thị H và anh Kha Văn K kết hôn trên cơ tự nguyện vào ngày 16/11/2016 tại UBND xã ML, huyện KS. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, nguyên nhân là anh Kha Văn K không chịu khó làm ăn, chăm lo cho gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lương Thị H đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Kha Văn K.
Về con: Vợ chồng có 01 (Một) con chung: Cháu Kha Pi T, sinh ngày 23/01/2017, hiện nay cháu đang ở với chị Lương Thị H, nếu ly hôn chị Lương Thị H sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Kha Văn K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Kha Văn K trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã triệu tập nhiều lần và Niêm yết công khai Thông báo thụ lí vụ án, Thông báo về phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Kha Văn K không có mặt, vì vậy trong vụ án này phía bị đơn không thể hiện được yêu cầu gì đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của phía nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, con chung của chị Lương Thị H và anh Kha Văn K trình bày nguyện vọng muốn được sống với mẹ là chị Lương Thị H trong trường hợp cha mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình điều tra, hòa giải và xét xử. Vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Lương Thị H được ly hôn với anh Kha Văn K.
- Về con chung: Đề nghị giao 01 (Một) con chung: Cháu Kha Pi T, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Lương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Kha Văn K do chị Lương Thị H không yêu cầu.
- Về về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết nghĩa vụ chịu phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Lương Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân cấp Huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Kha Văn K, cư trú tại bản YH, xã ML, huyện KS. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có mặt, tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên áp dụng Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn; trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Kha Văn K đều vắng mặt, tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng tại trụ sở Ủy ban nhân dân Xã và nơi cư trú của bị đơn anh Kha Văn K nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị H là hoàn toàn có cơ sở.
Về hôn nhân: Chị Lương Thị H và anh Kha Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên, về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, xảy ra bất đồng quan điểm, cãi vã, xúc phạm nhau trong cuộc sống. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lương Thị H là phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lương Thị H và anh Kha Văn K có 01 (Một) con chung là Kha Pi T, sinh ngày 23/01/2017, đang ở với chị Lương Thị H, chị Lương Thị H có nguyện vong sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Kha Văn K cấp dưỡng nuôi con chung, cháu Kha Pi T có đơn nguyện vọng được ở với mẹ nếu cha mẹ ly hôn.
Xét thấy, nguyện vọng của cháu Kha Pi T và sự tự nguyện của chị Lương Thị H, anh Kha Văn K không có mặt tại nơi cư trú nên cần giao cháu Kha Pi T, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Lương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con đủ tuổi trưởng thành là phù hợp, đúng quy định; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Kha Văn K.
Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Đây là vụ án ly hôn, chị Lương Thị H là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/20/16 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Kha Văn K;
2. Về con chung: Giao con chung Kha Pi T, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Lương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Kha Văn K do chị Lương Thị H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm non chăm sóc con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Buộc chị Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0001050 ngày 27/3/2024 tại Chi cục thi hành án huyện KS, tỉnh Nghệ An.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tóa án cấp trên thong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - UBND xã ML, huyện KS; - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |