- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HSST Ngày: 30/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng và ông Nguyễn Hoàng Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2023/HSST ngày 02 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 27/5/1978; Tại: tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố C, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nơi ở hiện nay: không nơi ở nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị L (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị C, sinh năm: 1981 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2001; Nhân thân: Ngày 25/5/2006 bị Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 899/2006/QĐ-UBND về việc áp dụng biên pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Đắk Lắk thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 07/8/2008 bị Trưởng công Thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 31322/QĐ-XPHC ngày 25/7/2008 với hình thức phạt tiền: 350.000 đồng (nộp phạt ngày 29/7/2023); Tại bản án số 233/2009/HSST, ngày 08/7/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 16/7/2011 (bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm: 50.000 đồng và phạt sung công 4.000.000 đồng vào ngày 04/12/2009); Tại bản án số 260/2012/HSST, ngày 04/9/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tại bản án số 354/2012/HSST, ngày 21/11/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Cộng 03 năm 06 tháng tù của bản án số 260/2012/HSST, ngày 04/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lăk; Hình phạt chung của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành là 07 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 02/02/2019 (bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm: 400.000 đồng của hai bản án số 260/2012/HSST, ngày 04/9/2012 và bản án số 354/2012/HSST, ngày 21/11/2012 vào ngày 24/4/2017); Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút – Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Duy T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 05/01/1993; Tại: tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Buôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Duy T, sinh năm: 1970 và bà Phạm Thị M, sinh năm: 1974; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút – Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Mang Ngọc Q, sinh năm 1952. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)
Những người chứng kiến:
1. Ông Trần Kim K, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
2. Ông Lang Văn C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 07/08/2023 Nguyễn Duy T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 77X1-86XX đến khu vực nghĩa trang đường P, thành phố B, Đắk Lắk tìm mua ma túy về sử dụng. Lúc này, T gặp Nguyễn Văn H, H rủ T góp tiền để mua ma túy sử dụng chung, T đồng ý và H đưa cho T số tiền 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng), T cũng góp số tiền 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng). Sau đó, T cầm tiền đi vào khu vực bên trong nghĩa trang và gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch và địa chỉ), T hỏi mua ma túy và đưa cho người đàn ông này 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) thì được người này đưa lại một đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất ma túy. Sau khi mua được ma túy T cất gói ma túy vào túi quần phía trước, bên phải mà T đang mặc trên người rồi đi ra khỏi nghĩa trang, sau đó T dùng xe mô tô của mình chở H đi về hướng thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc Tổ dân phố M, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông, H và T đi vào khu vực nghĩa trang để sử dụng ma túy. Tại đây, T lấy trong túi quần phía trước, bên phải mà T đang mặc trên người số ma túy vừa mua được ra chia cho H một phần để sử dụng, T cũng sử dụng một phần, số ma túy còn lại trong ống hút nhựa màu trắng, T cất vào túi quần phía trước, bên phải mà T đang mặc trên người. Sử dụng ma túy xong, cả T và H cùng ngủ lại nghĩa trang, đến khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 08/8/2023 thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần phía trước, bên phải mà Nguyễn Duy T đang mặc trên người một đoạn ống hút nhựa được hàn kín, màu trắng bên trong có chất rắn màu trắng nghi là ma túy đá (Methamphetamine), Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H khai nhận đó là ma túy đá mà T và H góp tiền mua chung để sử dụng. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H, kết quả dương tính với chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (Một) đoạn ống hút nhựa, màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy Methamphetamine) thu giữ trên người Nguyễn Duy T, được niêm phong trong một phong bì thư có chữ ký của Nguyễn Duy T, Nguyễn Văn H là người bị bắt quả tang, Trần Kim Khánh, Nguyễn Văn Sáu là người chứng kiến và đóng dấu tròn đỏ của Công an thị trấn EaTling, huyện Cư Jút, Đắk Nông.
- 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream mang biển kiểm soát: 77X1-86XX; Số máy: VLFPD1P50FMG - 3 *5A119431*, số khung: không có.
Quá trình điều tra xác định:
- Số ma túy có khối lượng mẫu 0,1283 gam, loại Methamphetamine thu giữ trong túi quần phía trước, bên phải của Nguyễn Duy T đang mặc trên người được niêm trong bì thư gửi đi giám định là của Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H góp tiền mua chung để sử dụng.
- Đối với xe mô tô kiểu dáng Dream Số máy: VLFPD1P50FMG - 3 *5A119431*, số khung: không có. Qua phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 24/8/2023 của công an huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xác định: “Không tìm thấy kết quả theo thông tin đề nghị tra cứu, xác minh”. Quá trình làm việc, Nguyễn Duy T khai nhận vào khoảng giữa tháng 07/2023 T mua chiếc xe trên của 01 (một) người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tại xã K, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, khi mua chỉ giao xe và không làm giấy tờ thủ tục mua bán, sang tên. Trong quá trình sử dụng T đã làm mất giấy đăng ký xe môtô.
- Đối với 01 (một) Biển kiểm soát 77X1- 86XX, là của ông Mang Ngọc Q, sinh năm: 1952; trú tại: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Ông Mang Ngọc Q cho biết vào khoảng tháng 7/2023 ông Q có để chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 77X1- 86XX trước nhà thì bị kẻ gian lấy trộm, nhưng vì chiếc xe này đã cũ và trị giá không đáng kể nên ông Q không báo cho chính quyền địa phương.
Tại bản kết luận giám định số 303/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận mẫu vật gửi giám định như sau: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu được niêm phong trong phong bì thư gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,1283 gam. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn màu trắng trong bì thư hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là: 0.1175.
Tại bản kết luận giám định số 307/KL- KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 77X1- 86XX có đặc điểm nêu trên gửi giám định hiện không có số khung. Biển kiểm soát: 77X1- 86XX là do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Tại Cáo trạng số: 65/CTr-VKS ngày 02/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào lúc 10 giờ 30 phút, ngày 08/8/2023 tại khu vực nghĩa trang thuộc Tổ dân phố 01, thị trấn Eatling, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút bắt quả tang Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H đang tàng trữ trái phép 0,1283 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2023; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, Điều 46; điểm b, khoản 1, Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,1175 gam ma túy (Methamphetamine) hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định (đựng trong một gói Zipper chỉ đỏ có kích thước (4x6)cm. Gói Zipper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được cho vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 303/KL – KTHS và ghi mẫu hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám đinh, đại diện Công an huyện Cư Jút và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông).
+ Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 110 ngày 05/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút, trả lại biển kiểm soát xe mô tô số 77X1-86XX, cho ông Mang Ngọc Q là chủ sở hữu hợp pháp.
+ Tiếp tục tạm giữ chiếc 01 xe mô tô kiểu dáng Dream, số khung: không có; số máy: VLFPD1P50FMG − 3 *5A119431* tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút để thông báo tìm kiếm chủ sở hữu theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự. Nếu trong thời gian quy định mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T thừa nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi đúng với hành vi cáo trạng đã truy tố và thống nhất với tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã đề nghị, không có ý kiến phản đối, kêu oan. Các bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo sớm được trở về hòa nhập với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 30-31); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 32); Biên bản khám nghiệm hiện trường (BL 33-34); Kết luận giám định (BL 44-45), cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hoàn toàn có đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 10 giờ 30 phút, ngày 08/8/2023 tại khu vực nghĩa trang thuộc Tổ dân phố M, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông Nguyễn Duy T và Nguyễn Văn H đang có hành vi Tàng trữ trái phép 0,1283 gam ma túy, loại (Methamphetamine) mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………
c) Heroine......có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
………”
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rằng ma túy là chất kích thích, gây nghiện, việc lạm dụng ma túy dẫn đến hủy hoại sức khỏe, thoái hoá nhân cách, suy giảm khả năng lao động. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời xâm phạm đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo sống có ích, có ý thức tôn trọng pháp luật và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội.
Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Các bị cáo không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với người nam thanh niên (không rõ nhân thân) có hành vi bán ma túy trái phép cho các bị cáo; Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 0,1175 gam ma túy (Methamphetamine) hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định (đựng trong một gói Zipper chỉ đỏ có kích thước (4x6)cm. Gói Zipper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được cho vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 303/KL – KTHS và ghi mẫu hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám đinh, đại diện Công an huyện Cư Jút và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông). Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 110 ngày 05/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut, trả lại biển kiểm soát xe mô tô số 77X1-86XX, cho ông Mang Ngọc Q là chủ sở hữu hợp pháp. Tiếp tục tạm giữ chiếc 01 mô tô kiểu dáng Dream, số khung: không có; số máy: VLFPD1P50FMG − 3 *5A119431* tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút để thông báo tìm kiếm chủ sở hữu theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự. Nếu trong thời gian quy định mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét những chứng cứ buộc tội các bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra là phù hợp nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2023. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2023.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,1175 gam ma túy (Methamphetamine) hoàn lại cơ quan trưng cầu sau giám định (đựng trong một gói Zipper chỉ đỏ có kích thước (4x6)cm. Gói Zipper trên và gói giấy bạc đựng mẫu gửi giám định được cho vào một bì thư có kích thước (16x23)cm, mặt trước bì thư có ký hiệu 303/KL – KTHS và ghi mẫu hoàn trả; mặt sau bì thư được dán kín, có chữ ký giáp lai của giám định viên, trợ lý giám đinh, đại diện Công an huyện Cư Jút và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông).
- Chấp nhận quyết định xử lý vật chứng số 110 ngày 05/10/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jut, trả lại biển kiểm soát xe mô tô số 77X1-86XX, cho ông Mang Ngọc Q là chủ sở hữu hợp pháp.
- Tiếp tục tạm giữ chiếc 01 mô tô kiểu dáng Dream, số khung: không có; số máy: VLFPD1P50FMG − 3 *5A119431* tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jút để thông báo tìm kiếm chủ sở hữu theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự. Nếu trong thời gian quy định mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Duy T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông. - Phòng PV06; PC10 CA tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - CA huyện Cư Jút; - Chi cục THADS huyện Cư Jút; - Bị cáo; - Người có QL&NVLQ; - Lưu hồ sơ; VP; BP-THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Tiến Thọ |