- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lò Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lò Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HS-ST Ngày: 01-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Như Toản và ông Nguyễn Văn Kền
Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Lò Văn S, S ngày: 10/6/1998, tại huyện Đ, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký thường trú: bản Cóoc Nọoc, xã N, huyện Đ, tỉnh Lai Châu; chỗ ở hiện tại: tổ 1, khu 10, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Lào; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn B và bà Lò Thị K; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 04/01/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H, có mặt.
- Người chứng kiến: anh Lò Văn T, anh Phạm Văn T; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 22 giờ ngày 04/01/2023 tại đoạn đường thuộc tổ 1, khu 10, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang Lò Văn S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán, thu giữ tại tay phải S đang cầm 01 (một) gói giấy bên trong chứa 03 (ba) gói giấy, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. S khai nhận đó là ma túy Heroine, S cất giấu với mục đích để bán. Thu giữ của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9T màu xanh gắn 02 sim, sim 01 số thuê bao 0839.026.287 và sim 02 số thuê bao 0923.907.709. Cơ quan CSĐT Công an thành phố H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn S tại tổ 1, khu 10, phường B, thành phố H: không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Kết luận giám định số 64/KL-KTHS, ngày 10/01/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là: 0,283 gam. Hoàn lại Cơ quan cảnh sát điều ra Công an thành phố H 0,15 gam.
Quá trình điều tra Lò Văn S khai nhận: S sử dụng ma túy Heroine từ năm 2020 đến nay. Ngày 02/01/2023, khi đang ở quê tại tỉnh Lai Châu, do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine nên S một mình đi đến khu vực bến xe Đ, huyện Đ, tỉnh Lào Cai để tìm mua ma túy. Tại đây, S mua của một người đàn ông 05 gói ma túy Heroine với giá 500.000 đồng. Mua được ma túy, S bắt xe khách đến chỗ ở và làm việc của mình tại một xưởng thuộc khu 10, phường B, thành phố H. S đã sử dụng hết 02 gói Heroine còn lại 03 gói. Tối ngày 04/01/2023, do cần tiền chi tiêu nên S đã nảy S ý định bán ma túy kiếm lời. S gói 03 gói ma túy vào 01 gói giấy, cầm sẵn ở tay phải rồi đi ra khu vực ngã ba Ba Lan để tìm người mua thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ ma túy và 01 chiếc điện thoại di động.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKSHL ngày 08 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Lò Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn S từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: ngày 04/01/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định và trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình như nội dung vụ án đã nêu trên; tại phiên tòa bị cáo khẳng định lời khai nhận trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật; thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi của bị cáo.
Xét lờ i khai của bi ̣ cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luâ ̣n giám đi ̣nh; phù hợp lờ i khai của người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 22 giờ ngày 04/01/2023 tại đoạn đường thuộc tổ 1, khu 10, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Lò Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,283 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để bán thì bị Công an thành phố H bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã nêu và viện dẫn là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy đi ̣nh:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Hành vi của bị cáo Lò Văn S là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là một loại độc dược, gây nghiện nguy hiểm. Do đó, tệ nạn sử dụng chất ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của con người mà nó còn làm phát S nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, làm mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, Nhà nước đã độc quyền và thống nhất quản lý các chất ma túy, với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật xử lý. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì vụ lợi, bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội để cải tạo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hinh pha ̣t bổ sung: ta ̣i khoản 5 Điều 251 của Bô ̣ luâ ̣t hinh sự quy
̀
̀ định ngườ i pha ̣m tô ̣i còn có thể bi ̣ áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng.
Về xử lý vâ ̣t chứ ng:
- 0,15g (không phẩy mười lăm gam) ma túy, loại Heroin (mẫu vật hoàn lại sau giám định), là vật nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 9T, màu xanh, kèm 02 sim điện thoại, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Về lờ i luâ ̣n tô ̣i của đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tinh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồ
́i vớ i bi ̣ cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nghia vu ̣ chi ̣u án phi hinh sự sơ thẩm: bị cáo là người dân tộc thiểu
̃
́ ̀
số, cư trú tại địa bàn xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quyết định 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính Phủ. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí. Do đó, xét miễn án phí đối với bị cáo.
Về quyền kháng cáo: bi ̣ cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Liên quan trong vụ án:
- Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết, quá trình điều tra không xác định được lý lịch của người này, nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Lò Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lò Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt: ngày 04/01/2023.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy: 0,15g (không phẩy mười lăm gam) ma túy, loại Heroine (mẫu vật hoàn lại sau giám định), trong phong bì niêm phong số 64/KLGĐ ngày 10/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.
- Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 9T, màu xanh, kèm 02 sim điện thoại.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 144/BB-THA ngày 14/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí đối với bị cáo Lò Văn S.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự̀
, bi ̣ cáo có quyền kháng cáo bản án trong thờ i ha ̣n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tinh Quả ̉ng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND TP H; - Cơ quan ĐTCATP H; - Cơ quan THAHS TP H; - Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - Chi cục THADS tp H; - Những ngườ i tham gia tố tu ̣ng; - Lưu HS+THA+VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thi ̣ Hồng |