- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Nhung phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Văn N 09 (chín) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HS-ST Ngày: 28-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Tô Tấn Chương
Bà Trần Thị Tuyết
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 71/2023/HSST-QĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn N, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1972 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi thường trú: 500/132 Đoàn Văn B, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H; con bà: Nguyễn Thị L; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 28/3/1992 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm; Ngày 22/11/1995 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 17/6/1997 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”; Ngày 13/4/2001 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 40 (bốn mươi) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Ngày 19/01/2005 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 29/6/2013 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2022 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: 500/132 Đoàn Văn B, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Lê Văn N nghiện ma tuý và không nghề nghiệp ổn định, do muốn có tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy nhằm thu lợi nhuận.
Ngày 19/12/2022 thông qua mạng xã hội Zalo, N quen biết với thanh niên có tài khoản “SAN TÀU”. Khoảng 21 giờ cùng ngày, “SAN TÀU” liên lạc đặt mua 4.000.000 đồng ma túy đá từ N và hẹn giao đến trước bến xe “Chợ Lớn” đường Trang Tử, Phường 2, Quận 6. Để có ma túy bán cho “SAN TÀU”, N điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda biển số 59E1- 939.45 đi từ nhà tại Quận 4 đến khu vực bờ kè đường Trần Văn Đang, Quận 3 tìm gặp thanh niên tên “T” (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 07 gói ma túy đá với giá 5.700.000 đồng, N cất giấu 04 gói ma túy vào túi quần trước bên phải mục đích để bán cho “SAN TÀU”, còn lại cất 01 gói vào túi quần trước bên trái và 02 gói vào trong túi áo bên trái đang mặc với mục đích để bán lại khi có người mua. Sau khi cất giấu ma túy, N điều khiển xe đến điểm hẹn để bán ma túy cho “SAN TÀU”.
Vào lúc 21 giờ 40 ngày 19/12/2022, khi N điều khiển xe máy đến trước số 238 Trần Hưng Đạo, Phường 11, Quận 5 thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 5 phát hiện nên tiến hành cho dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ bên trong túi quần phía trước bên phải của N đang mặc có 01 gói nylon bên trong có chứa 03 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; bên trong túi áo phía trước bên trái có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu; bên trong túi quần phía trước bên trái có 01 gói nylon chưa tinh thể không màu. N khai tất cả số tinh thể trên là ma túy đá dùng để đi bán cho khách nên tổ công tác đưa N cùng vật chứng, phương tiện về trụ sở Công an Phường 11, Quận 5 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5, N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, việc bán toàn bộ số ma tuý trên Nhung sẽ hưởng lợi tổng cộng 2.800.000 đồng, tuy nhiên chưa bán được thì bị bắt giữ như trên.
Vật chứng thu giữ: 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn N và hình dấu Công an Phường 11, Quận 5, bên trong có: Gói 1 chứa: 03 (ba) gói nylon (đựng trong 01 gói nylon) chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 14,9803g (một bốn phẩy chín tám không ba gam), loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9951g (bốn phẩy chín chín năm một gam), loại Methamphetamine; Gói 2: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3), đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,9786g (bốn phẩy chín bảy tám sáu gam), loại Ketamine; Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5387g (hai phẩy năm ba tám bảy gam), loại Ketamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 03 (ba) gói niêm phong số 36/23-Q5-gói 1, số 36/23-Q5-gói 2 và số 36/23-Q5-gói 3, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Mạnh Cường và điều tra viên Nguyễn Chí Hải); 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 866012050294733; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda biển số: 59E1 – 939.45.
Tại bản Kết luận giám định số: 68/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau: 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn N và hình dấu Công an Phường 11, Quận 5, bên trong có:
Gói 1 chứa: 03 (ba) gói nylon (đựng trong 01 gói nylon) chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 14,9803g (một bốn phẩy chín tám không ba gam), loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9951g (bốn phẩy chín chín năm một gam), loại Methamphetamine.
Gói 2: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3), đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,9786g (bốn phẩy chín bảy tám sáu gam), loại Ketamine.
Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5387g (hai phẩy năm ba tám bảy gam), loại Ketamine.
Bản cáo trạng số: 43/CTr-VKSQ5 ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p, q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p, q Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Văn N với mức án từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù, buộc bị cáo Nhung nộp phạt bổ sung số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung ngân sách nà nước; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo Lê Văn N không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lê Văn N đã có hành vi mua chất ma túy nhằm bán lại cho người khác để hưởng khoản tiền chênh lệch và bị Cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ chất ma túy với khối lượng gồm: 19,9754g (một chín phẩy chín bày không năm bốn gam), loại Methamphetamine và 7,8173g (bảy phẩy năm một bảy ba gam) loại Ketamine. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngoài ra, bị cáo Nhung có 06 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý mua bán chất ma túy nhằm mục đích hưởng lợi.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo có 06 tiền án chưa được xóa án tích. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích hưởng lợi, tuy nhiên xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế và chưa được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đối với đối tượng tên Tuấn bán ma túy cho bị cáo Nhung và đối tượng “SAN TÀU” là người mua ban túy của bị cáo Nhung, hiện chưa xác định được lai lịch, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn N và hình dấu Công an Phường 11, Quận 5, bên trong có: Gói 1 chứa: 03 (ba) gói nylon (đựng trong 01 gói nylon) chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 14,9803g (một bốn phẩy chín tám không ba gam), loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9951g (bốn phẩy chín chín năm một gam), loại Methamphetamine; Gói 2: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3), đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,9786g (bốn phẩy chín bảy tám sáu gam), loại Ketamine; Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5387g (hai phẩy năm ba tám bảy gam), loại Ketamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 03 (ba) gói niêm phong số 36/23-Q5-gói 1, số 36/23-Q5-gói 2 và số 36/23-Q5-gói 3, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Mạnh Cường và điều tra viên Nguyễn Chí Hải). Xét đây là vật phạm pháp nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 866012050294733 là tài sản cá nhân của bị cáo Nhung, sử dụng liên lạc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda biển số: 59E1 – 939.45 do Nguyễn Ngọc T đứng tên chủ sở hữu, ông T cho bị cáo Nhung mượn sử dụng, không biết bị cáo Nhung sử dụng làm phương tiện trong việc mua bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5 đã trả lại cho ông T là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm p, q Khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn N 09 (chín) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2022.
Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Văn N và hình dấu Công an Phường 11, Quận 5, bên trong có: Gói 1 chứa: 03 (ba) gói nylon (đựng trong 01 gói nylon) chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 14,9803g (một bốn phẩy chín tám không ba gam), loại Methamphetamine; 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9951g (bốn phẩy chín chín năm một gam), loại Methamphetamine; Gói 2: 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m3), đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,9786g (bốn phẩy chín bảy tám sáu gam), loại Ketamine; Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5387g (hai phẩy năm ba tám bảy gam), loại Ketamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định được gói trong 03 (ba) gói niêm phong số 36/23-Q5-gói 1, số 36/23-Q5-gói 2 và số 36/23-Q5-gói 3, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Mạnh Cường và điều tra viên Nguyễn Chí Hải).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số Imei: 866012050294733.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TpHCM; - Sở Tư pháp TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5; - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5; - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5; - Phòng PV 06 – Công an TPHCM; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |