- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức Thọ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HS-ST Ngày: 24/3/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tịnh
Các Hội Thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phan Anh
Ông Lý Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Xuân Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hà Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Đức T, sinh năm: 1980; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số A Ngõ B, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 06/12; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Con ông Lê Văn Đ và bà Vũ Thị S; Danh chỉ bản số 651 do Công an quận Đ lập ngày 28/11/2022;
Tiền án, tiền sự:
- Từ tháng 9/2001 đến tháng 7/2002 có 03 tiền sự về các hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản, bị bắt đi cơ sở giáo dục 12 tháng;
- Ngày 11/7/2006, Tòa án nhân dân quận B xử 15 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản;
- Ngày 20/10/2008, Tòa án nhân dân quận Đ xử 32 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy;
- Ngày 26/7/2018, Tòa án nhân dân quận H xử 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
- Ngày 20/5/2021, Tòa án nhân dân quận C xử 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa xóa án tích).
Bị bắt ngày 04/11/2022; Quyết định tạm giữ số 400/QĐ-CQĐT ngày 05/11/2022; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 04/11/2022, tại trước cửa nhà vệ sinh công cộng ở ngõ T, phường Q, quận Đ, Hà Nội, tổ công tác công an phường H đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lê Đức T. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay trái của T có 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc kích thước khoảng 0,3x0,5cm, chứa chất bột màu trắng (Tại chỗ, T tự khai là ma túy Heroine).
Tại bản kết luận giám định số 7701/KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội (BL 59) kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng (bên trong 01 gói giấy màu trắng) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,189 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lê Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/11/2022, T đi bộ đến khu vực ngã ba C, phường H, quận Đ, Hà Nội, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng tiền ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái và đi tìm nơi sử dụng. Khi T đang đi bộ đến trước cửa nhà vệ sinh công cộng trong ngõ T thì bị Cơ quan công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.
Đối với đối tượng đã ma túy, T khai không biết cụ thể họ tên, địa chỉ do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lí.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSĐĐ ngày 13/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ đã truy tố bị cáo Lê Đức T tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ giữ nguyên Cáo trạng, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân bị cáo đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Miễn phạt tiền cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về xử lý tang vật: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Lê Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được của vụ án, kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 04/11/2022, tại khu vực trước cửa nhà vệ sinh công cộng ở ngõ 23 Đoàn Thị Điểm, phường Quốc Tử Giám, quận Đ, thành phố Hà Nội, bị cáo Lê Đức T đã thực hiện hành vi giấu giữ trong người 0,189 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng.
Hành vi giấu giữ trong người 0,189 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo Lê Đức T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy đang là hiểm họa chung, cũng là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, tác động rất xấu đến trật tự xã hội. Bị cáo biết rõ hậu quả rất nguy hiểm do ma túy gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Nhân thân bị cáo có nhiều tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự thể hiện bị cáo đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do vậy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả hành vi cũng như nhân thân của bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Về đối tượng bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không điều tra, làm rõ được là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Đ tại phiên tòa về tội danh, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo cơ bản là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Điều 135, 136, 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Lê Đức T: 20 (hai mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/11/2022.
Miễn phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng D, chữ ký cán bộ Chu Ngọc V, chữ ký của người chứng kiến Nguyên Mạnh D và chữ ký của đối tượng Lê Đức T.
(Vật chứng trên hiện đang lưu tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đ, theo biên bản giao nhận vật chứng số 126 ngày 14/3/2023).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Đ; - Công an quận Đ; - Sở tư pháp TP Hà Nội; - Chi cục thi hành án dân sự quận Đ; - Trại tạm giam số 1; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tịnh |