vanban.org

Bản án 62/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Tiến D phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

2. Xử phạt bị cáo Bùi Tiến D 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày 29 tháng 6 năm 2023. Giao bị cáo Bùi Tiến D cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Tiến Dũng - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Bùi Tiến D phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HS-ST
Ngày: 29 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Việt Hùng – Sỹ quan Công an nghỉ hưu xã Hải Phúc;

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi – Giáo viên trường THPT A Hải Hậu.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Tiến D, sinh ngày 29/11/2006; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Viết V, sinh năm 1981 và bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1985; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Bùi Viết V, sinh năm 1981 và bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Thanh Tâm – Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1942; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Vũ Đức T, sinh năm 1942; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định.

2. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1965; địa chỉ: Xóm 8, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

3. Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định.

4. Ông Vũ Văn P, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Đức T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Văn P: Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Bùi Xuân B, sinh ngày 30/7/2005; Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Bùi Xuân B: Ông Bùi Thanh N, sinh năm 1979 (là bố đẻ). Vắng mặt.

2. Ông Bùi Thanh N, sinh năm 1979. Vắng mặt.

3. Ông Lưu Văn H, sinh năm 1979. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 07/3/2023, Bùi Tiến D điều khiển xe gắn máy, biển kiểm soát 18HA – 034.70 có dung tích xi lanh 49cm3 phía sau chở anh Bùi Xuân B, sinh năm 2005 ở xóm P, xã H, huyện H đi trên Quốc lộ 37B theo hướng từ xã H đến xã HP. Khi đến khu vực Tổ dân phố số 3, thị trấn Y, huyện H, D điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo chiều xe chạy của mình nên đã xô vào bà Nguyễn Thị Đ ở Tổ dân phố số 1, thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường theo hướng di chuyển của D. Hậu quả: Bà Đ bị chấn thương sọ não được đưa cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai, đến 05 giờ 00 ngày 08/3/2023 thì tử vong. Sau khi sự việc xảy ra, Bùi Tiến D đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Tuy nhiên, đại diện hợp pháp của bị hại đã trả lại số tiền trên, không có yêu cầu gì về phần dân sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 438/KL-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định: Nạn nhân Nguyễn Thị Đ chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.

Bản kết luận định giá về tài sản số 28/KL – HĐĐG ngày 18/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận: Giá trị thiệt hại của chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 18HA – 034.70 của anh Bùi Xuân B là 340.000 đồng.

Cáo trạng số 59/CT-VKS-HH ngày 06 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Bùi Tiến D về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Tiến D về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Bùi Tiến D từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Tiến D trình bày: Nhất trí với tội danh và điều luật do Viện Kiểm sát áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và hoản cảnh của bị cáo, cụ thể: Khi phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, hiểu biết về luật giao thông còn hạn chế. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000đ nhưng sau đó gia đình bị hại đã trả lại toàn bộ số tiền và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và tiếp tục được đi học.

Bị cáo và người bào chữa của bị cáo đều nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa xác nhận, sau khi sự việc tai nạn giao thông xảy ra bị cáo và gia đình đã đến nhà thăm hỏi, xin lỗi và bồi thường số tiền 40.000.000 đồng nhưng thấy gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn nên gia đình bị hại đã trả lại số tiền trên. Đến nay đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo được tiếp tục đi học.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối lỗi về sai lầm của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo được tiếp tục đi học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo Bùi Tiến D tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, bản giám định pháp y; lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng; biên bản thu giữ và trao trả vật chứng và các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 07/3/2023, Bùi Tiến D điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 18HA – 034.70 có dung tích xi lanh 49cm3 phía sau chở anh Bùi Xuân B ở xóm P, xã H, huyện H đi trên Quốc lộ 37B theo hướng từ xã H đến xã HP. Khi đến khu vực Tổ dân phố số 3, thị trấn Y, huyện H, D điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo chiều xe chạy của mình nên đã xô vào bà Nguyễn Thị Đ đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường theo hướng di chuyển của D. Hậu quả: Bà Đ bị chấn thương sọ não được đưa cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai, đến 05 giờ 00 phút ngày 08/3/2023 thì tử vong tại gia đình. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2009 nên có đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định:

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Khoản 4 Điều 11 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định:

“4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn”.

Điều 260. Tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000đ đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người; …”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã điều khiển phương tiện giao thông lưu thông trên đường nhưng đã vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ, do không chú ý quan sát khi đang có người đang đi bộ qua đường, không giảm tốc độ nhường đường cho người đi bộ, đã đi lấn sang làn đường bên trái theo chiều đi của mình gây ra tai nạn làm chết một người. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và để răn đe phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm đã gây ra. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo và gia đình cũng đã đến thăm hỏi, chia buồn và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng, gia đình bị hại không nhận tiền bồi thường mà trả lại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 03 tháng 07 ngày nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; có ý thức sửa chữa lỗi lầm; có khả năng tự cải tạo; bị cáo còn là người chưa thành niên nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cùng với gia đình bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 40.000.000 đồng, tuy nhiên đại diện gia đình bị hại không nhận bồi thường mà trả lại số tiền trên và không có yêu cầu gì về phần dân sự nên không xem xét.

Đối với chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 18HA – 034.70 do bị cáo điều khiển tham gia giao thông gây tai nạn là tài sản hợp pháp của anh Bùi Xuân B, anh B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại chiếc xe bị hư hỏng mà nhận tự khắc phục nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe gứn máy cho anh B là phù hợp nên không xem xét điều chỉnh.

Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

1.1. Tuyên bố bị cáo Bùi Tiến D phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

1.2. Xử phạt bị cáo Bùi Tiến D 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày 29 tháng 6 năm 2023.

Giao bị cáo Bùi Tiến D cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Bùi Tiến D theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 58/LC-ĐKNCT ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo Bùi Tiến D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ