vanban.org

Bản án 62/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 24/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Lương Đình H 13(Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/01/2023. Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LƯƠNG ĐÌNH H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:62/2023/HS-ST
Ngày: 24/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Hồng Ninh

Ông Vũ Minh Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa:Bà Trần Thị Ánh Tuyết- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Lương Đình H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1994; ĐKHKTT: K, Đ, B, Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Có bố là: Lương Đình B, Sinh năm: 1970; Có mẹ là: Lê Thị Y1, Sinh năm: 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án tiền sự: không

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 04/01/2023. Đến ngày 10/01/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội.

(Bị cáo H có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 04/01/2023, tổ công tác Công an xã D phối hợp với Công an xã Y – Công an huyện G, Hà Nội làm nhiệm vụ tại thôn Q, Y, G, Hà Nội phát hiện Lương Đình H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa H về trụ sở làm rõ.

Vật chứng thu giữ của Lương Đình H: 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô BKS: 29S1 – 04131 số khung 5SD218457, số máy 5SD218457 nhãn hiệu Jupiter Yamaha màu xanh đã cũ đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 290/KL-KTHS ngày 12/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,111gam.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lương Đình H khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 04/01/2023, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS: 29S1 – 04131 đi từ Y2, Y3, G, Hà Nội đến khu vực Đ1, T, Bắc Ninh để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực Đ1, T, H đã mua 01 gói ma túy được bọc bằng giấy bạc của 01 người phụ nữ đi xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu ma túy vào túi áo khoác bên trái, phía trước mà H đang mặc và điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi H đi đến khu vực thôn Q, Y, G thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Lời khai nhận của bị cáo Lương Đình H là phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Lương Đình H do không rõ về nhân

thân nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện G không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Chiếc xe mô tô BKS: 29S1 – 04131 số khung 5SD218457, số máy 5SD218457 nhãn hiệu Jupiter Yamaha màu xanh, qua điều tra xác định chiếc xe máy trên thuộc sở hữu của bị cáo Lương Đình H. Ngày 04/01/2023, bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy về sử dụng.

Bản cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 12-4-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố Lương Đình H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên Tòa:

Bị cáo H thừa nhận và đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lương Đình H có đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Lương Đình H mức án từ 13 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/01/2023

Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của Lương Đình H. Trong phong bì niêm phong bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,091 gam.(Đã trừ trích mẫu giám định 0,02 gam).

Tịch thu sung công chiếc xe mô tô BKS: 29S1 – 04131 số khung 5SD218457, số máy 5SD218457 nhãn hiệu Jupiter Yamaha màu xanh, qua điều tra xác định chiếc xe máy trên thuộc sở hữu của bị cáo Lương Đình H. Ngày 04/01/2023, bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy về sử dụng.

Nói lời sau cùng bị cáo có mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đồng nhất không có mâu thuẫn, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 04/01/2023, tại khu vực thôn Q, Y, G, Hà Nội, bị cáo Lương Đình H có hành vi tàng trữ trái phép 0,111 gam ma túy loại Heroin để sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Lương Đình H đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.

.Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo :

Xét nhân thân bị cáo chưa tiền án tiền sự. Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Khi lượng hình cũng xem xét, tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về xử lý vật chứng:

- Cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Lương Đình H là vật nhà nước cấm lưu hành bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của Lương Đình H. Trong phong bì niêm phong bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,091 gam.(Đã trừ trích mẫu giám định 0,02 gam).

- Tịch thu sung công chiếc xe mô tô BKS: 29S1 – 04131 số khung 5SD218457, số máy 5SD218457 nhãn hiệu Jupiter Yamaha màu xanh thuộc sở hữu của bị cáo Lương Đình H do có liên quan đến hành vi phạm tội.(Ngày 04/01/2023, bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy về sử dụng.)

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lương Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Lương Đình H 13(Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/01/2023.

2.Về hình phạt bổ sung : Không áp dụng

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

- Cho tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Lương Đình H là vật nhà nước cấm lưu hành bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận của Lương Đình H. Trong phong bì niêm phong bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,091 gam.(Đã trừ trích mẫu giám định 0,02 gam).

- Tịch thu sung công chiếc xe mô tô BKS: 29S1 – 04131 số khung 5SD218457, số máy 5SD218457 nhãn hiệu Jupiter Yamaha màu xanh thuộc sở hữu của bị cáo Lương Đình H do có liên quan đến hành vi phạm tội. (Ngày 04/01/2023, bị cáo sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua ma túy về sử dụng.)

(Có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện G theo biên bản giao nhận vật

chứng ngày 17 /4/2023)

4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lương Đình H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5 . Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo Lương Đình H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ