vanban.org

Bản án 62/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Thị Th 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 02/11/2022). Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Thị Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
_________
Bản án số: 62/2023/HS - ST
Ngày 12 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Anh Tuấn

Bà: Lò Thị Cải

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Thị Th. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1975

Tại: Điện Biên

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn H (đã chết) và con bà: Tòng Thị C (đã chết): Chồng: Nguyễn Ngọc A và có 02 con, con lớn sinh năm 1994; con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án: Ngày 26/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 10/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 02/11/2022 đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/11/2022, Lường Thị Th đi bộ một mình từ nhà thuộc bản Lĩnh, xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên lên đầu bản Lĩnh, xã Mường Pồn với mục đích tìm mua Methamphetamine về sử dụng. Đến nơi, Thgặp và hỏi mua của một người phụ nữ dân tộc Mông (không biết tên tuổi địa chỉ) 02 viên Methamphetamine với giá 50.000 đồng. Mua được ma túy, Thcất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi Thđang đứng ở dưới gầm sàn nhà Ththì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang và thu giữ tại túi quần bên phải Thđang mặc 01 túi ni lon màu xanh, miệng túi có nẹp bấm cố định, mở bên trong có 02 viên Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 02/11/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản Kết luận giám định số 1446/KL - KTHS ngày 10/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Thị Th là 0,2 gam. Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Lường Thị Th gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSĐB ngày 14/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Lường Thị Th về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Thị Th từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,2 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,15 gam sau khi giám định). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 14 giờ 45 phút ngày 02/11/2022, tại nơi ở của bị cáo Lường Thị Th, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Điện Biên phát hiện bắt quả tang và thu giữ tại túi quần bên phải bị cáo Thđang mặc 01 túi ni lon màu xanh mở bên trong có 02 viên nghi Methamphetamine. Qua cân xác định khối lượng và Kết luận giám định đã xác định, vật chứng thu giữ của bị cáo là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,2 gam. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nguồn gốc số Methamphetamine bị thu giữ là do bị cáo mua của một người phụ nữ (bị cáo không biết tên và địa chỉ) mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mục đích của bị cáo tàng trữ 0,2 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đơn giản, chỉ do nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân mà không có mục đích nào khác. Tuy nhiên, hành vi đó của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn trong xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, bản thân không đi học. Ngày 10/3/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Ngày 26/6/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 02 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, ngày 05/02/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt chính trở về địa phương, bản án này bị cáo chưa được xóa án tích và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52/ BLHS. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là ông Lường Văn Hặc đã có thành tích xuất sắc được Hội đồng nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát để nghị áp dụng mức hình phạt tù từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thu nhập chủ yếu từ làm ruộng nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng: Gồm 0,2 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,15 gam sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST. Vì vậy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người phụ nữ bị cáo không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được. Vì vậy HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Thị Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Thị Th 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 02/11/2022).

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS

- Tịch thu tiêu huỷ 0,2 gam Methamphetamine (Gửi toàn bộ giám định và hoàn lại 0,15 gam sau khi giám định)

Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 15/12/2022.

4. Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/01/2023).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ