- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Trần Thị L với anh Lê Quang T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị L với anh Lê Quang T; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-5-2023 V/v Ly hôn giữa chị Trần Thị L với anh Lê Quang T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Na.
2. Bà Trần Thị Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 132/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện PL, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Quang T, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn 7, xã Đ, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 01-12-2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị L trình bày:
Chị và anh Lê Quang T tìm hiểu yêu nhau, chung sống từ năm 2017 trong thời gian làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh; có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Sau khi cưới, vợ chồng ở chung với cha mẹ chồng tại xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế rồi vào thành phố Hồ Chí Minh làm việc. Cả hai có con trước khi đăng ký kết hôn. Ngày 06-8-2018, cả hai đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng không đăng ký thường trú chung. Quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh do tính cách, lối sống không hợp nhau; anh T thường hay ăn nhậu, mỗi khi chị có ý kiến thì anh gây gỗ, cãi nhau. Cha mẹ đã góp ý, nhắc nhở nhưng anh T vẫn không thay đổi. Vợ chồng đã không chung sống từ năm 2019 đến nay. Tình trạng kéo dài, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con: Vợ chồng có một người con chung là cháu Lê Quang V, sinh ngày 09-3-2018. Từ khi vợ chồng không chung sống, cháu V ở với anh T và ông bà nội. Chị yêu cầu giải quyết nuôi con theo quy định của pháp luật. Vì điều kiện việc làm của chị ở xa; cháu V đã ổn định nơi ở, học tập nên đề nghị giao cháu V cho anh T trực tiếp nuôi đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng: Từ khi vợ chồng không chung sống, hàng tháng chị vẫn gửi tiền đóng góp nuôi con thông qua bà nội của cháu nhưng chị không yêu cầu ghi nhận việc cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu cấp dưỡng gì khác.
Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Lê Quang T trong thời hạn quy định không nộp hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07-4-2023, bà Phan Thị Liệu (Diệu) trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh T. Anh T và chị L chung sống với nhau có cưới hỏi, đã có con chung là cháu Lê Quang V. Từ khi chị Linh sinh con thì vợ chồng mâu thuẫn, hay cãi vã nhau, đã không chung sống gần 05 năm. Anh T đăng ký thường trú chung với vợ chồng bà nhưng điều kiện việc làm không ở nhà thường xuyên. Con chung của vợ chồng anh T, chị L đang ở với vợ chồng bà và học mầm non tại xã Đ.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập anh Lê Quang T đến trình bày ý kiến và tham gia phiên họp, hòa giải vào các ngày 03-3-2023 và ngày 07-4-2023 nhưng anh T vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ngày 07-4-2023, chị Trần Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ngày 10-4-2023, Tòa án niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa vào ngày 25-4-2023 nhưng anh T vắng mặt nên đã hoãn phiên tòa. Ngày 26-4-2023, Tòa án niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa vào ngày 18-5-2023 nhưng anh T tiếp tục vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn nhiều lần vắng mặt là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do nên đề nghị căn cứ Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Chị Trần Thị L và anh Lê Quang T kết hôn hợp pháp; quá trình chung sống có một người con chung là cháu Lê Quang V, sinh này 09-3-2018.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị L ly hôn; về con chung giao cháu V cho anh T trực tiếp nuôi đến khi thành niên; về cấp dưỡng không có yêu cầu nên không xem xét; tài sản, nghĩa vụ không có yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Lê Quang T có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên chấp nhận. Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Lê Quang T tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 06-8-2018. Thời điểm đăng ký, cả hai có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn, thấy rằng:
Chị Linh yêu cầu ly hôn do vợ chồng không hợp về tính cách, lối sống, hay cãi vã nhau và đã không chung sống từ năm 2019 đến nay. Xét thấy quá trình tố tụng, Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng anh T không thực hiện quyền và nghĩa vụ đưa ra ý kiến, tham gia hòa giải và tham gia tố tụng tại phiên tòa. Chứng tỏ, anh T bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài nhưng vợ, chồng người nào chỉ lo bổn phận người đó.
Như vậy, vợ chồng đã không có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị Linh ly hôn.
Về con: Anh Lê Quang T và chị Trần Thị L có một người con chung là cháu Lê Quang V, sinh ngày 09-3-2018, phù hợp chứng cứ là giấy khai sinh.
Xét yêu cầu giải quyết việc nuôi con khi ly hôn, thấy rằng:
Chị L đề nghị giao cháu V cho anh T trực tiếp nuôi. Mặc dù anh T không đưa ra ý kiến nhưng theo thừa nhận của chị L và trình bày của bà Phan Thị L thì từ khi vợ chồng không chung sống, cháu V sống ổn định và học mầm non tại xã Đ. Do đó, giao cháu V cho anh T trực tiếp nuôi đến khi thành niên là đảm bảo quyền lợi của cháu V, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã được phổ biến, giải thích nhưng tự nguyện không yêu cầu nên không xét.
Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56; các Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị L với anh Lê Quang T; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Quang V, sinh ngày 09-3-2018 cho anh Lê Quang T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/00002050 ngày 01-12-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phong Điền; - CCTHADS huyện Phong Điền; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HNGĐ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Trường |