vanban.org

Bản án 62/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Trương Thanh T.

Về con chung: Giao con chung tên Trương Thiên Di, sinh ngày 14/6/2021 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Trương Thanh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 14-7-2023.
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly
hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thậm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Ngọc Thi và ông Võ Hùng Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố R.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 146/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/6/2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Số 8 Đường Đ, phường R, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

* Bị đơn: Anh Trương Thanh T, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Số 75/39/2 Đường Q, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Đ trình bày: Anh chị tự quen biết và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang ngày 21/6/2021. Cuộc sống hôn nhân xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình trạng căng thẳng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành và vợ chồng cũng đã sống ly thân. Thấy sống chung không hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên chị Đ yêu cầu ly hôn.

Lý do xin ly hôn: Chị Đ cho rằng quá trình chung sống tính tình hai bên không hòa hợp, vợ chồng bất đồng về quan điểm và lối sống, tình cảm vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Ngoài ra, không còn nguyên nhân nào khác.

Về con chung: Chị Đ xác nhận có 01 con chung tên Trương Thiên D, sinh ngày 14/6/2021, hiện nay con chung đang sống cùng chị Đ. Sau khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và xác định đủ điều kiện tự nuôi con nên không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác nhận không có tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn – Anh Trương Thanh T: Vắng mặt.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn – chị Đ xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn đối với anh T. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, về phiên tòa sơ thẩm.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng

Chi Đ khởi kiện xin ly hôn anh T có nơi đăng ký thường trú tại địa chỉ số 75/39/2 Đường Q, thành phố R, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn – anh Trương Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử nhưng vẫn vắng mặt, cũng không có căn cứ cho việc vắng mặt của anh T là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân

Chị Đ và anh T tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được UBND phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Đ khởi kiện cho rằng quá trình chung sống giữa vợ chồng do tính tình không hợp, không cùng quan điểm và tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng cũng đã ly thân không còn chung sống.

Bị đơn – anh Trương Thanh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vẫn cố tình vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn cũng như chứng cứ do chị Đ cung cấp. Xét thấy thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh T đã được Tòa án hòa giải đoàn tụ nhưng anh T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại Tòa, chị Đ xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, sau khi nghị án Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ.

Về con chung: Chị Đ xác nhận có 01 con chung tên Trương Thiên D, sinh ngày 14/6/2021, từ khi ly thân con chung sống cùng chị Đ. Sau khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và xác định đủ điều kiện tự nuôi con nên không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, chị Đ đã trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung ổn định từ khi ly thân đến nay. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần và bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, nên căn cứ vào quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng.

Về việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đ về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác nhận không có tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T cũng không có ý kiến gì về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Xét thấy ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở để HĐXX xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Trương Thanh T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trương Thiên Di, sinh ngày 14/6/2021 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Đ.

Anh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ xác nhận không có tài sản chung, và cam kết hiện nay không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nếu sau này anh T có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.

4. Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005086 ngày 10/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố R.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/7/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ