- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn”"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Mộng L1 được ly hôn với ông Huỳnh Văn Th2.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST Ngày 03/7/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngọ Văn Tỉnh.
Các Hội thẩm nhân nhân: 1. Bà Đoàn Thị Mến
2. Ông Đào Danh Tuất
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phùng Thị Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trần Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2022/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 27/2023/QĐST – HNGĐ ngày 05/6/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng L1, sinh năm: 1982 (vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Th2, sinh năm: 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Gò Cà, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn Tòa án nhận ngày 22/6/2022 và các bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án bà Nguyễn Thị Mộng L1 trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thị Mộng L1 và ông Huỳnh Văn Th2 quen biết và tìm hiểu nhau, sau một thời gian tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ vào năm 2004 và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 2004. Việc chung sống với nhau và đăng ký kết hôn là tự nguyện, không ai ép buộc.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Bà Rịa – Vũng Tàu, thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau khi sinh con thứ 2 vào tháng 12/2007 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ông Thuận bỏ đi. Khoảng một năm sau khi bỏ đi ông Thuận về và dẫn theo một người phụ nữ khác đến nhà trọ do mẹ con bà Lan sinh sống và nói là đã về quê Phú Yên cưới vợ, sau đó bà Lan dẫn các con về thành phố Cần Thơ sinh sống từ đó đến nay là 15 năm vợ chồng chưa gặp lại nhau, ông Thuận cũng chưa thăm các con lần nào. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Lan yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn Th2 để có điều kiện xây dựng cuộc sống mới.
Về con chung: bà Nguyễn Thị Mộng L1 và ông Huỳnh Văn Th2 có 02 con chung là Huỳnh Bá Cường, sinh ngày 06/11/2004 đã thanh niên và cháu Huỳnh Mỹ Khánh Linh, sinh ngày 29/12/2009, hiện nay cháu Linh đang sống cùng với bà Lan. Nếu ly hôn bà Lan yêu cầu nuôi con chung là cháu Linh và không yêu cầu ông Thuận cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ông Huỳnh Văn Th2, Tòa án đã tiến hành các thủ tục Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu quan điểm của kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn vắng mặt hai phiên tòa là chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung: Qua xem xét nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng, thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp:
Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Huỳnh Văn Th2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Thuận vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy xét xử vắng mặt ông Thuận là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn” giữa bà Nguyễn Thị Mộng L1 với ông Huỳnh Văn Th2 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà bà Nguyễn Thị Mộng L1 với ông Huỳnh Văn Th2 bắt đầu từ năm 2004, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ vào năm 2004 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc với nhau tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Do ông Thuận vắng mặt tại phiên tòa và không có lời khai để trình bày ý kiến của mình về mâu thuẫn trong hôn nhân nên Tòa án căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn bà Lan cho rằng cuộc sống chung vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình hai người không hợp nhau, nên hay xảy ra xung đột và cải vã lẫn nhau nên khi sinh con thứ 2 vào năm 2007 thì ông Thuận bỏ đi không sống cùng bà Lan nữa, được 1 năm sau thì dẫn người phụ nữ khác về và nói rằng đã kết hôn, sau đó bà Lan dẫn các con về quê Cần Thơ và từ đó đến nay vợ chồng không gặp lại nhau nữa.
Xét yêu cầu của bà Lan cho thấy sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra ông Thuận và bà Lan phải cùng tìm nguyên nhân để hàn gắn vợ chồng và xây dựng gia đình nhưng mâu thuẫn kéo dài từ năm 2007 đến nay mạnh ai nấy sống từ khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thời gian ly thân đã lâu từ năm 2007 đến nay. Sau khi bà Lan gửi đơn đến Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải để đoàn tụ vợ chồng nhưng không có kết quả vì lý do bà Lan kiên quyết ly hôn để xây dựng cuộc sống mới, còn ông Thuận vắng mặt.
Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của ông Thuận và bà Lan thực sự không còn tình trạng hôn nhân nhân trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài vì trong giai đoạn này là sự quyết liệt ly hôn của bà Lan và sự phó mặc của ông Thuận cho chính quan hệ hôn nhân đang rạn nứt của mình thì cơ hội đoàn tụ vợ chồng là không có. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lan.
. Về con chung: Bà Lan và ông Thuận 02 con chung là Huỳnh Bá Cường, sinh ngày 06/11/2004 đã thanh niên và cháu Huỳnh Mỹ Khánh Linh, sinh ngày 29/12/2009, hiện nay cháu Linh đang sống cùng với bà Lan. bà Lan yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh và không yêu cầu ông Thuận cấp dưỡng nuôi con. Khi giải quyết vụ án ông Thuận không đến Tòa án để trình bày nguyện vọng của mình về việc nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con, khi Tòa án yêu cầu bà Lan đưa cháu Linh đến Tòa án để Tòa án hỏi ý kiến cháu Linh thì bà Lan không thực hiện và cháu Linh có Đơn trình bày nguyện vọng có xác nhận của Văn phòng công chứng Huỳnh Ngọc Hải với nội dung muốn được ở với mẹ vì từ khi sinh ra đến nay chỉ có mẹ chăm sóc và nuôi dưỡng còn chưa biết mặt cha, chỉ biết tên cha là Huỳnh Văn Th2. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật cũng như điều kiện tốt nhất cho các cháu Linh trên thực tế cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lan trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh chung là phù hợp, ông Thuận không phải cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung và nợ chung: bà Lan không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
. Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 bà Lan phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân & gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 , 81, 82, 83, 84, 107 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Mộng L1 được ly hôn với ông Huỳnh Văn Th2.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mộng L1 và ông Huỳnh Văn Th2 có 02 con chung là Huỳnh Bá Cường, sinh ngày 06/11/2004 đã thành niên và cháu Huỳnh Mỹ Khánh Linh, sinh ngày 29/12/2009, hiện nay cháu Linh đang sống cùng với bà Lan.
Bà Nguyễn Thị Mộng L1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Mỹ Khánh Linh, sinh ngày 29/12/2009, ông Thuận không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc chăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, có thể yêu cầu cấp dưỡng và mức cấp dưỡng có thể thay đổi.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mộng L1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân & Gia đình bà Lan đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011343 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Như vậy bà Lan đã nộp đủ án phí Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận hoặc được niêm yết bản án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |