- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cà thị T và Lò Văn H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị T được ly hôn anh Lò Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/HNGĐ- ST Ngày: 08-8-2023 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Thiệp
2. Bà Lý Thị Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2023/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cà Thị T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Bản B, x T, huyện TC, tỉnh Sơn La. ( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Lò Văn H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Bản B, x T, huyện TC, tỉnh Sơn La. . ( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Cà Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Cà Thị T và anh Lò Văn H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 18/7/2013, tại Ủy ban nhân dân x Thôm Mòn, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2015 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra c i vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đ sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Cà Thị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Lò Văn H.
Về con chung: Chị Cà Thị T và anh Lò Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014. Hiện tại hai cháu Lò Thế Anh và Lò Trí Thiên đang sống chung với anh Lò Văn H ông bà nội.
Sau khi ly thân Cà Thị T về sống với bố, mẹ đẻ tại x Chiềng Bôm, huyện TC, tỉnh Sơn La. Chị Cà Thị T có nơi cư trú ổn định, chị Cà Thị T làm trồng trọt, chăn nuôi, thu nhập bình quân hàng tháng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Chị Cà Thị T nhất trí để anh Lò Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cà Thị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014 mỗi tháng mỗi cháu 500.000 đồng cho đến khi cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Cà Thị T cam đoan không có nợ chung.
Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lò Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lò Văn H và chị Cà Thị T kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 18/7/2013, tại Ủy ban nhân dân x Thôm Mòn, huyện TC, tỉnh Sơn La, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến năm 2018 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bát đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, chị Cà Thị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Hiện tại Lò Văn H và chị Cà Thị T đ sống ly thân, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Anh Lò Văn H xác định vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn chị Cà Thị T.
Về con chung: Anh Lò Văn H và chị Cà Thị T có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014. Hiện tại cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đang sống chung với anh Lò Văn H. Anh Lò Văn H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lò Văn H yêu cầu chị Cà Thị T cấp dưỡng nuôi con chung cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014 mỗi tháng mỗi cháu 500.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Lò Văn H cam đoan không có nợ chung.
Đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Cà Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Anh Lò Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh H giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.
T i biên bản xác minh ngày 21/7/2023: Tại bản Thống Nhất B, x Thôm Mòn, huyện TC, tỉnh Sơn La, chị Cà Thị T, anh Lò Văn H có nơi cư trú ổn định. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không nắm được. Hiện tại chị Cà Thị T, anh Lò Văn H đ sống ly thân. Chị Cà Thị T và anh Lò Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014. Hiện tại cháu Lò Thế Anh, sinh và cháu Lò Trí Thiên đang sống chung với anh Lò Văn H. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.
Tại biên bản ghi ý kiến ngày 06/6/2023, cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đều có nguyện vọng là ở với bố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đ thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đ thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đ thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị T được ly hôn anh Lò Văn H.
Về con chung: Giao cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014 cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cà Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014, mức cấp dưỡng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng)/ tháng/01 cháu.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Cà Thị T, anh Lò Văn H cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ cho nguyên đơn chị Cà Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Cà Thị T yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Lò Văn H có địa chỉ tại bản Thống Nhất B, x Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Cà Thị T, bị đơn anh Lò Văn H: Nguyên đơn chị Cà Thị T, bị đơn anh Lò Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cà Thị T và anh Lò Văn H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 18/7/2013, tại Ủy ban nhân dân x Thôm Mòn, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra c i v , hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị Cà Thị T và anh Lò Văn H đ sống ly thân, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị T cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Lò Văn H. Anh Lò Văn H nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Cà Thị T được ly hôn anh Lò Văn H. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Cà Thị T và anh Lò Văn H có 02 (hai) con chung là cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014. Hiện tại cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên ở cùng với anh H. Chị Cà Thị T nhất trí để anh Lò Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên, chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên, mỗi tháng mỗi cháu 500.000 đồng cho đến khi cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 6 năm 2023. Anh Lò Văn H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên, anh H yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên mỗi tháng mỗi cháu 500.000 đồng cho đến khi cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, tài liệu thu thập của Toà án: chị T, anh H có nơi cư trú ổn định, hiện nay làm trồng trọt, chăn nuôi, có thu nhập. Hiện tại cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đang ở với anh H.
Ý kiến cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đều có nguyện vọng là ở với bố.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần, cần giao cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014 cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cà Thị T có thu nhập bình quân mỗi tháng từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014, mức cấp dưỡng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng)/ tháng/01 cháu, kể từ tháng 6/2023 cho đến khi cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ cần chấp nhận.
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không có.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Cà Thị T, anh Lò Văn H không có nợ chung.
Về án phí: Chị Cà Thị T có ý kiến xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Cà Thị T là người dân tộc thiểu số sống ở x có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khan, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ cho nguyên đơn chị Cà Thị T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị T được ly hôn anh Lò Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014 cho anh Lò Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc chị Cà Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Lò Thế Anh, sinh ngày 12/10/2013 và cháu Lò Trí Thiên, sinh ngày 15/10/2014, mức cấp dưỡng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng)/tháng/01 cháu, kể từ tháng 6/2023 cho đến khi cháu Lò Thế Anh và cháu Lò Trí Thiên đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
4. Về tài sản chung: Không có.
5. Về tài sản riêng: Không có.
6. Về nợ chung: Chị Cà Thị T và anh Lò Văn H không có nợ chung.
7. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ cho nguyên đơn chị Cà Thị T.
8. Về quyền kháng cáo: Chị Cà Thị T, anh Lò Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định t i các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - UBND xã T, huyện TC; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |