vanban.org

Bản án 62/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

2. Bà Nguyễn Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Phú Qúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 98/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/7/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thùy L, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Số A, ấp B, xã C, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Đặng Vũ C, sinh năm: 1980;

Địa chỉ: Số D, ấp E, xã F, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa, chị L là nguyên đơn trình bày:

Chị L và anh C cưới nhau và có đăng ký kết hôn ngày 23/6/2003 tại Uỷ ban nhân dân xã C. Chung sống đến tháng 02/2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau và xa nhau đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên chị L yêu cầu xin ly hôn với anh C.

Quá trình sống chung, chị L và anh C có 02 con chung tên Đặng Phạm Đình N, sinh ngày 18/9/2000 và Đặng Phạm Kỳ D, sinh ngày 02/12/2007, hiện đang sống với chị L. Chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng Đặng Phạm Kỳ D, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Đối với Đặng Phạm Đình N đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh C vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết của Tòa án và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh C đang sinh sống tại huyện Lấp Vò (chị L có nộp cho Tòa án Xác nhận ngày 26/6/2023 của Công an xã Long Hưng B) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, theo quy định tại Điều 28; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Anh C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Chị L và anh C chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, khi có mâu thuẫn chị L và anh C không còn chung sống từ năm 2010 đến nay. Khi Tòa án triệu tập hòa giải để tạo điều kiện cho vợ chồng có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm, trở lại chung sống để lo cho con chung. Nhưng anh C mặc dù nhận được thông báo của Tòa án đều không đến Tòa án. Điều đó chứng minh anh C không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân với chị L.

Do đó, xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị L và anh C đã lâm vào tình trạng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”

Từ nhận định và điều luật trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

Về nuôi con chung:

Quá trình sống chung, chị L và anh C có 02 con chung tên Đặng Phạm Đình N, sinh ngày 18/9/2000 và Đặng Phạm Kỳ D, sinh ngày 02/12/2007, hiện đang sống với chị L.

Chị L yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng Đặng Phạm Kỳ D, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Đối với Đặng Phạm Đình N đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Xét thấy từ khi chị L và anh C không chung sống thì 02 con do chị L nuôi dưỡng, 02 con vẫn đủ điều kiện khỏe mạnh, phát triển bình thường. Cháu Nghi hiện đã trưởng thành và cháu Duyên có văn bản ý kiến được sống với mẹ.

Do đó, giao cháu Duyên cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Chị L đủ điều kiện lo cho con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nên Tòa án không xem xét.

Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con theo quy định.

Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.

. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí:

Chị L xin ly hôn nên phải nộp án phí sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thùy L. Chị Phạm Thị Thùy L được ly hôn với anh Đặng Vũ C.

2. Về nuôi con chung:

Chị Phạm Thị Thùy L được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đặng Phạm Kỳ D, sinh ngày 02/12/2007, hiện đang sống với chị L.

Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung tên Đặng Phạm Đình N, sinh ngày 18/9/2000 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị L và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh C thực hiện quyền này.

3. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Phạm Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0016565 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

6. Án xử công khai. Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ