vanban.org

Bản án 62/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phà Thị D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phà Thị D tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2022. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phà Thị D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phà Thị D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HSST
Ngày 28/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Chí Thiện.

Thẩm phán: Ông Bùi Văn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần N Đính, Ông Đặng Tiến Dũng, Bà Đặng Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Huỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai với điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Lào Cai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/TLST - HS ngày 17/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST - HS ngày 13/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phà Thị D. Sinh ngày 01/01/1990 tại: huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phà A M và bà: Giàng Thị V; Có chồng là: Giàng A Q; Hiện đang thi hành án phạt tù về ma túy; Có 03 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ từ ngày 16/8/2022, tạm giam từ ngày 21/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà La Thị Huyền T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai; Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Ông Thái Vũ Hải Đ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai; Có mặt.

+ Ông Lý Minh T1 - Phó đội trưởng đội cảnh sát bảo vệ, Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai; Có mặt.

+ Ông Phạm N T2 - Cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 05 ngày 14/8/2022, Phà Thị D đang đi bộ trên đường về nhà thuộc thôn P, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai thì gặp một người phụ nữ không quen biết nói tiếng dân tộc Mông. Qua trao đổi người phụ nữ nói muốn thuê Phà Thị D vận chuyển ma tuý và trả tiền công là 4.000.000 đồng, D đồng ý. Người phụ nữ lấy số điện thoại và bảo D, khi nào vận chuyển ma tuý thì sẽ gọi điện thông báo trước, sau đó D về nhà.

Chiều tối ngày 14/8/2022 có một người đàn ông gọi điện thoại đến cho Phà Thị D và giới thiệu tên là N và bảo D khi nào có người đưa ma tuý thì cầm mang đến đưa cho N. Tối ngày 15/8/2022 N gọi điện thoại bảo D ra đường liên thôn P, để nhận ma tuý và mang ra giao cho N tại đoạn đường dốc Bổ Đôi thuộc thôn C, xã X, huyện B. D đi bộ đến khu vực đường liên thôn P, xã X, huyện B gặp người phụ nữ đã thuê D vận chuyển ma tuý trước đó. Người phụ nữ đưa cho D 01 bọc Nilon bên trong chứa 02 bánh ma tuý, D đi bộ mang theo số ma tuý đến điểm hẹn để giao cho N thì bị Công an huyện B phát hiện kiểm tra, người đàn ông tên N đã chạy thoát. Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ niêm phong vật chứng theo đúng quy định.

Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ của Phà Thị D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Readme màu xanh, đã qua sử dụng. Có số IMEI 1: 860750043281996; IMEI 2: 860750043281988, kèm thẻ sim. (điện thoại không sử dụng mật khẩu).

Tại bản kết luận giám định số 199/KL- GĐMT ngày 20/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 02 bánh chất bột khô màu trắng thu giữ của Phà Thị D vào ngày 16/8/2022 có tổng khối lượng 705,91 gam là loại chất ma túy Heroine.

Bản cáo trạng số 61/CT-VKS-P1 ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phà Thị D về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Phà Thị D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phà Thị D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phà Thị D tù chung thân. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Phà Thị D 20 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Do hám lời, ngày 16/8/2022, Phà Thị D đã vận chuyển trái phép 705,91 gam Heroine từ khu vực đường liên thôn Mà Sa Phìn mang ra giao cho người đàn ông tên N tại đường dốc Bổ Đôi thuộc thôn Giàng D Chải, xã Nậm Xây, huyện B để nhận tiền công 4.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “Heroine có khối lượng 100 gam trở lên” theo điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng 61/CT-VKS-P1 ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Có bố đẻ là ông Phà A Mềnh được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly vĩnh viễn bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo: Mức hình phạt người bào chữa đề nghị là nhẹ, không tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh ngày 19/8/2022 tại UBND xã Nậm Xây, huyện B xác định bị cáo Phà Thị D không có tài sản riêng gì có giá trị, gia đình thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy và người phụ nữ nói tiếng Mông giao ma túy:

Quá trình điều tra, bị cáo D khai nhận 2 bánh ma tuý Heroine thu giữ khi bị bắt là của một người phụ nữ không quen biết thuê D vận chuyển từ đường liên thôn Mà Sa Phìn mang ra giao cho N tại đường dốc Bổ Đôi thuộc thôn Giàng D Chải, xã Nậm Xây, huyện B để nhận tiền công 4.000.000 (Bốn triệu đồng) thì bị bắt quả tang. D khai nhận không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể của người phụ nữ. Do chỉ có lời khai của D, ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu thập thêm được tài liệu chứng cứ nào khác nên không có cơ sở để điều tra làm rõ về người phụ nữ cũng như nguồn gốc số ma tuý. Viện kiểm sát tỉnh Lào Cai không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, đúng pháp luật.

Đối với người nhận ma tuý tên N

Quá trình điều tra, D khai nhận vận chuyển 02 bánh ma tuý giao cho một người đàn ông tên N thì bị Công an bắt quả tang, N đã bỏ chạy, Công an không bắt giữ được. D không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên N. Quá trình kiểm tra điện thoại di động, D khai nhận người đàn ông tên N sử dụng số thuê bao điện thoại 0348.581.614. Công an tỉnh Lào Cai tiến hành xác minh chủ đăng ký thuê bao là Vương Thị Dược, sinh ngày 05/10/1998 trú tại thôn Tòng Chú, xã Cốc San, thành phố Lào Cai. Hiện tại Dược không có mặt tại nơi cư trú, không xác định được đang ở đâu, nên chưa làm việc được. Do chỉ có lời khai của D, ngoài ra Công an không thu thập thêm được tài liệu gì khác nên không có cơ sở để làm rõ về người đàn ông nhận ma tuý tên N. Viện kiểm sát tỉnh Lào Cai không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp, đúng pháp luật.

Về vật chứng:

- Đối với 696,01 gam Hêroine còn lại sau trích mẫu giám định: Đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại thu giữ của Phà Thị D: Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phà Thị D phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Phà Thị D tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2022.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố Tụng Hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp niêm phong vật chứng được dán kín bằng giấy trắng, tại các mép dán có chữ ký, họ tên của những người tham gia niêm phong, hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Trên một mặt hộp niêm phong ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phà Thị D tại thôn Giàng Dúa Chải, xã Nậm Xây, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Hộp niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định (bên trong chứa 696,01 gam Heroine sau trích mẫu và các lớp nilon, bì, giấy gói bên ngoài của mỗi bánh ban đầu gửi giám định).

* Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Readme màu xanh đen đã qua sử dụng. Có số IMEI 1: 860750043281996, IMEI 2: 860750043281988, kèm thẻ sim (điện thoại không sử dụng mật khẩu).

(Các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/11/2022 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phà Thị D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ