- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯMGAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮKLẮK ––––––––––––––– Bản án số:62/2022/HSST Ngày 16-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH ĐẮKLẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Nhất.
2. Ông Hoàng Duy Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh ĐắkLắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 11 năm 2022, đối với:
* Bị cáo: Họ và tên Lê Anh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh năm: 1967 tại tỉnh Cao Bằng;
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Hiệp L, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Lê Trung T (đã chết) và con bà Hoàng Thị Đ (đã chết)
Bị cáo có vợ là Mã Thị TH, sinh năm: 1968. Có 02 người con, con lớn nhất sinh năm: 1991 và con nhỏ sinh năm: 1999. Hiện vợ và con đang sinh sống tại thôn Hiệp L, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2022 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk – Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Ông Trần Khánh B, sinh năm 1996 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.
- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1970 - Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện C, tỉnh Đăk Lăk
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Vào sáng ngày 10/9/2022, Lê Anh T đón xe buýt đi từ thôn Hiệp L, xã Q, huyện C đến khu vực nghĩa địa thuộc đường P, thành phố B để mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến bến xe buýt thì T xuống xe và đi bộ đi đến khu vực nghĩa địa đường P tìm người nào có bán ma túy để T mua về sử dụng. Lúc này, T có gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi chạy xe máy đến hỏi T “có phải đi kiếm hàng không (tức là kiếm ma túy)” thì T trả lời là “phải”. Sau đó, T đã đưa cho người đàn ông này 5.000.000 đồng để người này mua giúp T 4.000.000 đồng tiền thuốc phiện và 1.000.000 đồng tiền Heroine. T chờ người đàn ông này khoảng 30 phút thì người đàn ông này quay lại đưa cho T 01 bao thuốc lá hiệu War Horse bên trong có 01 gói nylon có chữ in, bên trong gói ny lon này có chứa ma túy, loại thuốc phiện và 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet bên trong có 01 gói giấy màu trắng có chữ in, bên trong gói giấy này có chứa ma túy, loại Heroine. Sau khi mua được ma túy thì T bắt xe buýt đi về nhà. Khi T về đến nhà ở thôn Hiệp L, xã Q, huyện C thì T lấy một ít thuốc phiện và một ít Heroine cất trong túi quần để sử dụng dần, số ma túy còn lại T đem đi cất giấu. T cất giấu 01 bao thuốc lá hiệu War Horse bên trong có chứa 01 gói thuốc phiện ở trên gối đầu giường ngủ còn 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet bên trong có chứa 01 gói Heroine thì T cất giấu ở góc cột nhà. Đến sáng ngày 14/9/2022, T lấy gói thuốc phiện và Heroine mà T cất giấu trong túi quần trộn lẫn vào nhau để sử dụng, khi T đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma túy còn lại ngay bên cạnh người T đang ngồi. Sau khi Cơ quan Công an huyện C phát hiện, bắt giữ thì T tự nguyện giao nộp 01 bao thuốc lá hiệu War Horse bên trong có 01 gói thuốc phiện mà T cất giữ trên gối đầu giường ngủ và 01 bao thuốc lá nhãn hiệu JET bên trong có 01 gói Heroine T cất ở góc cột nhà. Sau đó, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với T, tạm giữ, niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 913/KL - KTHS ngày 22/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận:
- Phong bì M1: Chất dẻo màu đen trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 24,1811gam, loại: Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện).
- Phong bì M2: Chất dẻo màu đen trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,0447 gam, loại: Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện).
- Phong bì M3: Chất rắn màu trắng chứa 01 gói giấy màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,7926 gam, loại: Heroine
Tại Bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 25/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk, đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Anh T như nội dung cáo trạng, đồng thời đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Anh T mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo Lê Anh T tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/9/2022, tại thôn Hiệp L, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Lê Anh T có hành vi tàng trữ trái phép 26,2258 gam ma túy, loạị: Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện) và 5,7926 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
* Tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…..
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
…….
n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này”
…..”
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi nên phải nhận thức được rằng; các loại dược chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt; mọi hành vi tàng trữ chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo Lê Anh T vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Xét về nhân thân; bị cáo Lê Anh T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Từ những căn cứ và nhận định nói trên, Hội đồng xét xử xét thấy; cần thiết phải áp dụng cho bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Trong vụ án này; Đối với đối tượng là người đàn ông đã mua ma túy giúp cho Lê Anh T tại khu vực Nghĩa Trang thành phố B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Anh T, ngày 23/9/2022 Công an huyện C ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo đối với Lê Anh T theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.
Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: Phong bì 1: Chất dẻo màu đen có khối lượng 23,4366 gam, loại thuốc phiện; Phong bì 2: Chất dẻo màu đen có khối lượng 1,8334 gam, loại thuốc phiện; phong bì M3: Chất rắn màu trắng có khối lượng: 5,6708 gam, loại Heroine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu, là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 vỏ bao thuốc lá JET; 01 vó bao thuốc là hiệu WAR HORSE; 01 bộ dụng cụ sử dụng thuốc phiện gồm: Tẩu bằng tre dài 32 cm, ly sứ cao 05 cm, kim khâu bao dài 16cm, quyẹt ga màu đỏ, vỏ lon nước ngọt bằng kim loại cao khoảng 04cm là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Lê Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Anh T 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 14/9/2022.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là hàng cấm gồm có: Phong bì 1: Chất dẻo màu đen có khối lượng 23,4366 gam, loại thuốc phiện; Phong bì 2: Chất dẻo màu đen có khối lượng 1,8334 gam, loại thuốc phiện; phong bì M3: Chất rắn màu trắng có khối lượng: 5,6708 gam, loại Heroine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng: 01 vỏ bao thuốc lá JET; 01 vó bao thuốc là hiệu WAR HORSE; 01 bộ dụng cụ sử dụng thuốc phiện gồm: Tẩu bằng tre dài 32 cm, ly sứ cao 05 cm, kim khâu bao dài 16cm, quyẹt ga màu đỏ, vỏ lon nước ngọt bằng kim loại cao khoảng 04cm.
(Hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar; Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2022, giữa cơ quan Cảnh sát điểu tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar)
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Anh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
*Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKS tỉnh; TA tỉnh Đắk Lắk;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp Đắk Lắk;
- VKS huyện C;
- CA huyện C;
- CCT.H.A dân sự; T.H.A hình sự;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ; lưu VP.
- Vụ Giám đốc kiểm tra I – TANDTC;
NGUYỄN QUANG CẢNH
*