vanban.org

Bản án 62/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 09/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 6 năm 2022; Tịch thu, tiêu hủy mẫu trả A1=0,0611 gam; A2=0,0101 gam cùng toàn bộ bao gói và 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói sau giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HS-ST
Ngày 09 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Danh Bình và bà Phan Thị Nhung;

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1990; tại Thái Nguyên; địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Văn C và con bà Trần Thị M; vợ; Con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình hoạt động: Tại Quyết định số 47/2019/QĐ-TA ngày 22/01/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 21/02/2020 đã được xóa tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2022 đến nay, có mặt.

*Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994, vắng mặt;

Chị Trần Thị S, sinh năm 1984, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016. Khoảng 10 giờ ngày 16 tháng 6 năm 2022, Nguyễn Văn N một mình đi bộ tại khu vực xã Thanh Xuyên, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì có nhu cầu sử dụng ma túy, nên N đã gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy N đã sử dụng một phần trong 01 túi ma túy, số ma túy còn lại N cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc và 01 túi ma túy N cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc. Sau đó N rồi bắt xe ôm của một người đàn ông không quen biết, không rõ danh tính đi đến khu vực thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm việc làm. Khi người xe ôm chở N đi đến khu vực tổ 2, phường Trưng Nhị, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, N bảo người xe ôm dừng tại 01 cửa hàng thuốc để mua xilanh sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/6/2022, khi N đang đi bộ vào cửa hàng thì bị tổ công tác phường Trưng Nhị, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi đang tàng trữ trái phép chất ma túy.

*Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- Thu giữ của Nguyễn Văn N tại túi quần phía trước bên phải 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa cục bột màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 theo quy định của pháp luật. Tại túi quần phía trước bên trái: 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa cục bột màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2 theo quy định của pháp luật

Thu giữ khoảng 150ml mẫu chất lỏng màu vàng là nước tiểu thu được của Nguyễn Văn N trong 01 chai nhựa có nắp đậy kín được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số: 1809/KLGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1028g (Không phảy một không hai tám gam, không kể bao bì) loại Heroine”. “Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0411g (Không phảy không bốn một một gam, không kể bao bì) loại Heroine”. Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật: A1=0,0611 gam; A2=0,0101 gam cùng toàn bộ bao gói, cần tịch thu tiêu hủy.

Tại bản kết luận giám định số: 1847/ KLGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận:

“Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn N - SN: 1990, HKTT: xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên gửi đến giám định”. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “ Mẫu trả”, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N và người lái xe ôm chở N từ Thái Nguyên về Phúc Yên. Quá trình điều tra đến nay không xác định được danh tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm của bản thân như đã nêu trên, lời khai của N phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 63/CT - VKSPY ngày 19 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 6 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng như Cáo trạng đã đề cập; bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật;

Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành

phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định và phù hợp với vật chứng đã thu giữ hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại tổ 2, phường Trưng Nhị, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, với mục đích để sử dụng Nguyễn Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 túi ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,1439gam thì bị Công an bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy…thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …….

c) Heroine……………..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 63/CT – VKSPY ngày 19 tháng 8 năm 2022 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét nhân thân, tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo học hết lớp 9 thì nghỉ học, nghiện ma túy từ năm 2016. Bị cáo trước khi phạm tội đã 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến nay đã được xóa tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm của mình; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cần phải áp dụng hình phạt tù giam như đề xuất của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và làm rõ tại phiên tòa bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng; hiện bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N và người lái xe ôm chở N từ Thái Nguyên về thành phố Phúc Yên. Quá trình điều tra đến nay không xác định được danh tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp;

Về vật chứng vụ án:

Cần tịch thu, tiêu hủy mẫu trả A1=0,0611 gam; A2=0,0101 gam cùng toàn bộ bao gói và 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16 tháng 6 năm 2022;

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy mẫu trả A1=0,0611 gam; A2=0,0101 gam cùng toàn bộ bao gói và 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu và toàn bộ bao gói sau giám định.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ