- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Việt H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Việt H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HS-ST Ngày: 05 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lò Quốc Việt
Bà Đoàn Thị Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Mai Chi, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 66/2022/TLST-HS ngày 03/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/HSST-QĐ ngày 22/3/2022 đối với bị cáo:
Lê Việt H (tên gọi khác: không), sinh ngày 08 tháng 9 năm 1994 tại huyện YC, tỉnh SL; Nơi ĐKNKTT: tiểu khu 4, thị trấn YC, huyện YC, tỉnh SL. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: tại bản án số 51/2015/HSPT ngày 11/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 86/2015/HSST ngày 20/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, xử phạt bị cáo 06 năm tù về tội Cướp tài sản (chưa được xóa án tích); Tiền sự: ngày 11/11/2019 bị Ủy ban nhân dân huyện Yên Châu xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi Đánh bạc (đến nay chưa chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ ngày 15/12/2021, tổ công tác Công an phường CS phối hợp với Công an phường QT – Công an Thành phố SL làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 04, phường QT, thành phố SL, tỉnh SL đã phát hiện, bắt quả tang Lê Việt H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lê Việt H khai nhận:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/12/2021, Lê Việt H đón xe ô tô taxi đi từ nhà ông bà nội ở tổ 8, phường QT, thành phố SL đến khu vực chân dốc bản Mạt, xã CM, huyện MS, tỉnh SL tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây H đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 18 viên ma túy hồng phiến để trong một gói giấy bạc với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau đó H cất giấu gói ma túy vừa mua được vào túi áo khoác đang mặc rồi đón xe ô tô taxi đến khu vực tổ 4, phường CS, thành phố SL tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường CS phối hợp với Công an phường QT – Công an Thành phố SL phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Cơ quan Công an thành phố SL thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc bên trong có 18 viên nén đồng dạng màu hồng (theo lời khai của H là hồng phiến).
Ngày 16/12/2021, Công an thành phố SL tiến hành cân tịnh vật chứng, kết quả 18 viên nén đồng dạng màu hồng có tổng trọng lượng 1,71 gam. Lấy 07 viên có tổng khối lượng 0,70 gam (ký hiệu A) niêm phong gửi giám định, còn lại 11 viên có tổng khối lượng 1,01 gam, lưu kho vật chứng ký hiệu B.
Tại Kết luận giám định số 14 ngày 17/12/2021 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,70 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,71 gam, loại Methamphetamine”.
Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSTP ngày 02 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, tỉnh SL đã truy tố bị cáo Lê Việt H về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Việt H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Việt H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Việt H từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/12/2021). Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì công văn Công an thành phố Sơn La còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lê Việt H, sinh năm 1994 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 15/12/2021” gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc, mẫu lưu có khối lượng 1,01 gam ký hiệu B”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 039032 có ghi “Cơ quan CSĐT-CTP. Sơn La hồi 10 giờ 30 phút ngày 16/12/2021 tại Công an thành phố Sơn La”.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo:
Vào ngày 15/12/2021, Lê Việt H đã có hành vi Tàng trữ trái phép 1,71 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 15 phút ngày 15/12/2021 tại tổ 4, phường QT, thành phố SL, tỉnh SL đối với Lê Việt H.
- Kết luận giám định số 14 ngày 17/12/2021 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh SL kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại Methamphetamine;”
- Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: Lê Việt H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Lê Việt H với số lượng tàng trữ ma túy 1,71 gam Methamphetamine đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, có một tiền án về tội Cướp tài sản, bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội “Cướp tài sản” đến nay chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc 1,71 gam Methamphetamine, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của người không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Về vật chứng vụ án: Đối với 1,01 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ giám định, 01 vỏ niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc, xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Việt H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Lê Việt H 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt phạm tội quả tang (ngày 15/12/2021).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc, mẫu lưu B = 1,01 gam, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 039032.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2022 giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Lê Việt H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Việt H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/4/2022)./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La; - Viện kiểm sát nhân dân TP Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - Trại giam Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS thành phố Sơn La; - THA hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lò Quốc Việt Đoàn Thị Thúy | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Quỳnh Trang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Quỳnh Trang |