vanban.org

Bản án 62/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HS-ST
Ngày: 22/02/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Ngân.

2. Bà Trần Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Đạm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 244/2021/TLST-HS ngày 13/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H(Mao), sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Quê quán: Giồng Riềng – Kiên Giang; Nơi ĐKHKTT: ấp Thạnh An, xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở: Số 81, ấp Tân Điền, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Thợ hàn; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn Sáu, sinh năm 1956; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc Điệp, sinh năm 1955; Vợ: Võ Thị Bích Liên, sinh năm 1996; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 04/3/2020, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 03/11/2020, chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2021 hiện đang bị tạm giam, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Thanh Giang, sinh năm 1981; (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: 430/154 đường Nguyễn Biểu, P. Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

+ Ông Lê Thanh Cường, sinh năm 1995; (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: 430/154 đường Nguyễn Biểu, P. Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 00 giờ 10 phút ngày 14/8/2021, tại khu vực đầu đường Nguyễn Biểu, phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Rạch Giá phối hợp với Công an phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá bắt quả tang Nguyễn Văn Hcó hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ ở kẹt mông của H01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt rắn màu trắng, không đồng nhất và 01 (một) điện thoại hiệu ITEL, màu đỏ, số Imei 355149114452820, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra đã xác định, Hbắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng giữa tháng 7 năm 2021 và từng bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, nên vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/8/2021, Hgọi điện thoại cho người thanh niên tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) trao đổi mua ma túy với giá 700.000 đồng để sử dụng, giao dịch tại khu vực cầu Cái Sắn (thuộc tuyến tránh thành phố Rạch Giá). Khi đến nơi hẹn, Hđưa Tuấn 700.000 đồng, Tuấn đưa cho Hmột vỏ gói thuốc lá hiệu HERO, bên trong có 01 (một) bịch ma túy đá. Hlấy bịch ma túy giấu vào trong kẹt mông của mình và vứt bỏ gói thuốc HERO, đi bộ về nhà ở số 81, ấp Tân Điền, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành. Tại nhà, Hchiết một ít ma túy ra sử dụng (mọi người trong nhà không ai biết Htàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy). Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 14/8/2021, Htiếp tục có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng do sợ người nhà phát hiện nên Hđi bộ ra khu vực đường Nguyễn Biểu, thuộc phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực đầu đường Nguyễn Biểu thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ ở kẹt mông của H01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt rắn màu trắng, không đồng nhất, Hkhai nhận là chất ma túy.

Ngày 26/8/2021, Nguyễn Văn Hbị khởi tố và đến ngày 19/10/2021 bị bắt tạm giam để điều tra về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Các đồ vật, tài liệu đã thu giữ trong vụ án:

- 01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt rắn màu trắng, không đồng nhất. Tang vật được niêm phong trong phong bì màu trắng, có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Văn H, Điều tra viên Trương Xuân Đỡ, người chứng kiến Nguyễn Thanh Giang và Lê Thanh Cường, dấu mộc đỏ của Công an phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá.

- 01 (một) điện thoại hiệu ITEL, màu đỏ, số Imei 355149114452820, đã qua sử dụng.

* Tại bản Kết luận giám định về ma túy số 816/KL-KTHS, ngày 22/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: mẫu vật gửi giám định (chất rắn màu trắng chứa trong một bịch nylon được niêm phong) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu giám định là 2,4622 gam (hai phẩy bốn sáu hai hai gam).

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số 03/CT - VKSRG ngày 08/12/2021 và đề nghị:

+ Đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

+ Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng:

* Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 816/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Phạm Huỳnh Thanh Long và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu ITEL, màu đỏ, số Imei 355149114452820, đã qua sử dụng.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 03/LNK-ĐCSMT ngày 08/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

- Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Hkhai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

HĐXX xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn Hbắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ giữa tháng 7 năm 2021. Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, nên vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/8/2021, Hgọi điện thoại cho người thanh niên tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) trao đổi mua ma túy với giá 700.000 nhằm mục đích để sử dụng, giao dịch tại khu vực cầu Cái Sắn thuộc tuyến tránh thành phố Rạch Giá. Sau khi mua được ma túy, Hđã sử dụng được một ít tại nhà của mình (số 81, ấp Tân Điền, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành). Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 14/8/2021, Htiếp tục có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã đi bộ ra khu vực đường Nguyễn Biểu, thuộc phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến khu vực đầu đường Nguyễn Biểu thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ ở giữa kẹt mông của H01 (một) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt rắn màu trắng, không đồng nhất, qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 2,4622 gam.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Hđã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, truy tố bị cáo theo các điều khoản như trên của bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng chỉ vì nhu cầu sử dụng chất ma túy nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Hơn nữa bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất và mức độ của bị cáo gây ra, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người dân lương thiện, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa, giáo dục chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 04/3/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 03/11/2020, chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ là để có ma túy sử dụng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn Hkhông có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 816/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Phạm Huỳnh Thanh Long và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu ITEL, màu đỏ, số Imei 355149114452820, đã qua sử dụng.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 03/LNK-ĐCSMT ngày 08/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người thanh niên tên Tuấn bán ma túy cho Nguyễn Văn H, qua điều tra, không xác minh được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Hphải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào;

- Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 299; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2014 ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vể mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2021.

* Về xử lý vật chứng:

- Tuyên Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu vụ số 816/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Phạm Huỳnh Thanh Long và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

- Tuyên Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu ITEL, màu đỏ, số Imei 355149114452820, đã qua sử dụng.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 03/LNK-ĐCSMT ngày 08/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Hphải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/02/2022).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ