- Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Huỳnh Thu Cẩm V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tịch thu và tiêu hủy: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong số 1815/KLGĐ (số 01 và 02) ngày 23/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) bản sao chứng minh thư nhân dân số 142735805 mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 (một) chứng mi…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HS-ST Ngày 05 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thu Hà và bà Hồ Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Phương, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tiến Đ; sinh ngày 10 tháng 11 năm 1995, tại huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: thôn Phù Tải 2, xã Kim Đính, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; chỗ ở: tổ 16, khu 2B, phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T và bà Trần Thị Y; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 17/9/2021; tạm giam từ ngày 26/9/2021; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
2. Huỳnh Thu Cẩm V; sinh ngày 26 tháng 6 năm 1984, tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ 6, khu 6, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: tổ 2, khu 4, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Đông X; và bà Mai Thị H; có chồng là Mai Việt D, sinh năm 1983 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 16/9/2021; bị tạm giam từ ngày 25/9/2021; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1) Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 2000; nơi cư trú: thôn Bắc Mã 2, xã Bình Dương, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
2) Anh Lê Hậu G, sinh năm: 1994; nơi cư trú: tổ 76, khu 5, phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
3) Chị Trần Thị T, sinh năm: 2001; nơi cư trú: thôn Hai Cũ, xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
4) Anh Nguyễn Văn P, sinh năm: 1991; nơi thường trú: thôn Phụng Công, xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: tổ 4A, khu 1A, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
5) Chị Hoàng Thị N, sinh năm: 1998; nơi thường trú: thôn Trung, xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: Phòng 105 Chung cư mini ngõ 5, tổ 16, khu 2A, phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
6) Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1995; nơi cư trú: tổ 5, khu 7, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
* Những người chứng kiến:
1) Anh Trần Văn H, sinh năm: 1990; nơi cư trú: tổ 34, khu 4A, phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
2) Ông Nguyễn Xuân K; nơi cư trú: tổ 2, khu 4, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
3) Bà Mai Thị H, sinh năm: 1961; nơi cư trú: tổ 2, khu 4, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 55 phút ngày 16/9/2021, tại phòng làm việc của ban quản lý chung cư tòa B, Lideco thuộc tổ 5, khu 2, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh bắt quả tang Huỳnh Thu Cẩm V có hành vi tàng trữ trái phép chất nghi là ma túy, với mục đích để bán. Thu trong túi quần phía trước bên phải của V 05 viên nén màu xanh không rõ hình dạng, kích thước, lô gô, gói trong giấy vệ sinh (ký hiệu M1).
Ngày 17/09/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Huỳnh Thu Cẩm V tại tổ 2, khu 4, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh thu giữ: Trong túi áo khoác màu đen bên trái treo trong tủ quần áo phòng ngủ tầng 2 của V: 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 09 viên nén màu xanh, hình đa giác (ký hiệu M2); 01 gói giấy vệ sinh bên trong 04 viên nén màu xanh, hình đa giác (ký hiệu M3) và 08 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi có chất tinh thể màu trắng (ký hiệu từ M4 đến M11); Thu trong phòng ngủ 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Huỳnh Thu Cẩm Vân.
Quá trình điều tra, Huỳnh Thu Cẩm V khai: Vân sử dụng ma túy, loại “Thuốc lắc” và ma túy, loại Ketamine từ đầu năm 2021 đến nay. Qua bạn bè ngoài xã hội, V quen biết Nguyễn Tiến Đ và biết Đ cũng sử dụng ma túy và có ma túy “Thuốc lắc” để bán, nên từ đầu tháng 7/2021 đến nay, V đã nhiều lần mua ma túy “Thuốc lắc” của Đ để sử dụng và bán kiếm lời. Trong đó, lần gần nhất vào khoảng cuối tháng 8 năm 2021, V gọi điện hỏi mua của Đ 03 viên ma túy “Thuốc lắc” với giá 400.000 đồng/01 viên thì Đ đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vespa màu trắng, biển kiểm soát 35B1-535.96 đến khu vực gần chung cư Ramada thuộc tổ 4 khu 9 phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long gặp và bán cho V 03 viên ma túy “Thuốc lắc” màu xám, hình chữ nhật, để trong khẩu trang màu đen, V đưa cho Đ 1.200.000 đồng. Tiếp đó, vào ngày 06/9/2021, V gọi điện cho Đ hỏi mua 05 viên ma túy “Thuốc lắc” với giá 400.000 đồng/01 viên thì Đ đồng ý. Sau đó, Đ đi xe mô tô Vespa màu trắng, BKS 35B1-535.96 đến tại khu vực gần quán bia Thu Vệ nằm phía sau quán Karaoke KTV thuộc phường Yết Kiêu bán cho V 05 viên ma túy “Thuốc lắc” màu xám, hình chữ nhật giấu trong khẩu trang màu trắng xanh, Vân đưa lại cho Đức 2.000.000 đồng. Toàn bộ số ma túy trên, V đã sử dụng hết. Riêng ma túy Công an thu giữ trong quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vân là do V mua của người đàn ông không quen biết vào ngày 14/9/2021, tại khu vực gần chung cư Ramada, với tổng số tiền là 25.000.000 đồng, mục đích để bán. Về khoản tiền 11.700.000 đồng, V chuyển vào tài khoản của Hoàng Thị N (người yêu của Đ) để trả cho Phan Công T (anh của Đ) tiền vay mượn cá nhân, không liên quan đến việc mua bán ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Thị N khai nhận phù hợp với lời khai của Huỳnh Thu Cẩm V về việc, ngày 14/9/2021, Đ mượn số tài khoản ngân hàng của Ngọc để V chuyển số tiền trên đến tài khoản ngân hàng của N để chuyển lại cho Đ. N không biết nội dung V chuyển 11.700.000 đồng cho Đ để làm gì. Ngày 25/9/2021, N đã tự nguyện giao nộp số tiền 11.700.000 đồng và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vespa màu trắng, biển kiểm soát 35B1-535.96 cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công tỉnh Quảng Ninh đã ra lệnh bắt, khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Nguyễn Tiến Đ tại ngõ 5, tổ 16, khu 2A, phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long, thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen vàng có gắn sim số 0778.336.444 và 01 sổ hộ khẩu mang tên Trần Quang Bưởi, 01 bản sao chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Tiến Đ. Đức khai: Nguồn gốc số ma túy trên do Đ mua của người đàn ông tên Dương không quen biết với giá 300.000 đồng/01 viên “Thuốc lắc” và 1.800.000 đồng/01 túi ma túy Ketamine sau đó bán lại cho T để kiếm lời.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Tiến Đ khai nhận như Huỳnh Thu Cẩm V, Hoàng Thị N khai, về việc Đ đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Huỳnh Thu Cẩm V, cụ thể: Vào ngày cuối tháng 8/2021 Đ bán cho V 03 viên ma túy “Thuốc lắc” với giá 400.000 đồng/01 viên và ngày 06/9/2021, Đ bán cho V 05 viên ma túy “Thuốc lắc” với giá 400.000 đồng/01 viên. Ngoài ra, Đ đã 02 lần bán ma túy cho Trần Thị T, cụ thể: Vào khoảng giữa tháng 6/2021, tại khu vực đầu ngõ khách sạn Chiến Công, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, Đ đã bán cho T 03 viên ma túy “Thuốc lắc” với giá 1.050.000 đồng; Vào cuối tháng 7/2021, cũng tại địa điểm trên, Đ đã bán cho T 01 túi ma túy Ketamine với giá 2.000.000 đồng; Ngày 06/8/2021, tại chân dốc Ngân hàng thuộc phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long, Đ bán cho Nguyễn Văn P 02 viên ma túy “Thuốc lắc”, với giá 450.000 đồng/01 viên; Vào cuối tháng 7/2021, tại khu vực Cenco 5, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long và cuối tháng 8/2021, tại khu vực Kho gạo, phường Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, Đức đã 02 lần bán ma túy “Thuốc lắc” cho Lê Hậu G, với tổng số tiền thu được 2.000.000 đồng; Vào khoảng tháng 3 và tháng 5/2021, tại chân cầu Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, Đ đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn T với tổng số tiền thu được là 1.100.000 đồng. Về nguồn gốc số ma túy Đ bán cho các đối tượng trên là do Đ mua của người đàn ông tên Dương (không rõ lai lịch, địa chỉ), tại khu vực gần nhà nghỉ Chiến Công thuộc tổ 4, khu 1, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị T, Nguyễn Văn P, Lê Hậu G, Nguyễn Văn T có lời khai phù hợp như Nguyễn Tiến Đ khai, về số lần, địa điểm, số tiền đã mua ma túy của Đ để sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 1815/KLGĐ ngày 23/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật kí hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng như sau: M1 = 2,375 gam, M2 = 4,357 gam, M3 = 1,349 gam; Mẫu vật kí hiệu M4, M5, M6, M7, M8, M9, M11 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng như sau: M4 = 0,709 gam, M5 = 0,749 gam, M6 = 0,734 gam, M7 = 0,714 gam, M8 = 0,734 gam, M9 = 0,711 gam, M11 = 0,728 gam; Mẫu vật kí hiệu M10 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, Ketamine, khối lượng là 0,752 gam. Hoàn lại đối tượng giám định: M1 = 2,07 gam, M2 = 3,45 gam, M4 = 0,66 gam, M5 = 0,69 gam, M6 = 0,68 gam, M7 = 0,66 gam, M8 = 0,68 gam, M9 = 0,66 gam, M10 = 0,69 gam, M11 = 0,68 gam.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận việc truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Giai đoạn điều tra, những người chứng kiến đều có lời khai nội dung sự việc cơ quan Công an bắt quả tang bị cáo V tàng trữ ma túy và khám xét, thu giữ các vật chứng của các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSHL ngày 25 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Huỳnh Thu Cẩm V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17 tháng 9 năm 2021).
- Áp dụng: điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thu Cẩm V từ 07 (bẩy) năm đến 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 16 tháng 9 năm 2021).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Căn cứ vào: các điểm a, b và c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b và c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu và tiêu hủy: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 (một) bản sao chứng minh thư nhân dân số 142735805 mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 (một) chứng minh thư nhân dân số 100773127 mang tên Huỳnh Thu Cẩm V; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen vàng đã qua sử dụng; Truy thu số tiền 10.250.000đ (mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Tiến Đ do phạm tội mà có. Trả lại cho chị Nguyễn Thị P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vespa màu trắng, biển kiểm soát 35B1-535.96 đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 (một) sổ hộ khẩu số 208 mang tên Trần Quang Bưởi; Trả lại cho chị Hoàng Thị N số tiền 11.700.000đ (mười một triệu bảy trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội phạm:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người chứng kiến về thời gian, địa điểm phạm tội và vật chứng bị thu giữ. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng có sự chứng kiến của các bị cáo và tiến hành giám định chất ma túy theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian giữa tháng 3/2021 đến tháng 9/2021, tại các phường Cao Xanh, Hồng Hải, Trần Hưng Đạo và Yết Kiêu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Tiến Đ đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T, với tổng số tiền thu được là 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng); 02 lần bán cho Trần Thị T, với tổng số tiền thu được là 3.050.000đ (ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); 02 lần bán cho Lê Hậu G, với số tổng số tiền thu được là 2.000.000đ (hai triệu đồng); 01 lần bán cho Nguyễn Văn P, với số tiền thu được là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng); 02 lần bán cho Huỳnh Thu Cẩm V, với tổng số tiền thu được 3.200.000đ (ba triệu hai trăm nghìn đồng), để T, Tr, G, P và V sử dụng. Tổng số tiền bị cáo Đ bán ma túy thu được là 10.250.000đ (mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Khoảng 22 giờ 55 phút, ngày 16/9/2021, tại phòng làm việc của ban quản lý chung cư tòa B, Lideco thuộc tổ 5, khu 2, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Huỳnh Thu Cẩm V có hành vi tàng trữ trái phép 2,375 gam ma túy, loại MDMA với mục đích để bán thì bị Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Ninh phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Ngoài ra, Huỳnh Thu Cẩm V còn có hành vi tàng trữ 5,706 gam ma túy loại MDMA, 5,079 gam ma túy loại Ketamnie, 0,752 gam ma túy loại “Ketamine” và “Methamphetamine” tại nơi ở của mình thuộc tổ 2 khu 4 phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh cũng nhằm mục đích để bán.
[2.2] Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;
p) Có 02 chất ma túy trở trên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;”...
Tại Thông tư liên tịch số: 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007, (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư liên tịch số: 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015) của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII: Các tội phạm về ma túy của Bộ luật Hình sự quy định:...
“3.1. “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này.”...
“3.3. “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:
a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có)...
e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;”…
Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo là có cơ sở pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an xã hội, làm bất bình trong quần chúng nhân dân địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.
Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo phạm tội lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng phạm tội rất nghiêm trọng, nên cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy các bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với Nguyễn Văn P, Lê Hậu G, Nguyễn Văn T, Trần Thị T có hành vi mua ma túy của Đ để sử dụng, nhưng chưa đủ điều kiện để xử lý hình sự, Công an thành phố Hạ Long đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với người đàn ông tên Dương đã bán ma túy cho bị cáo Đ và người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Vân, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cở sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và bản sao những chứng minh thư nhân dân của các bị cáo cùng các sim điện thoại đã qua sử dụng, hiện không còn giá trị, cần tịch thu và tiêu hủy. Công cụ phạm tội, đã qua sử dụng, còn giá trị, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Những tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo cần trả lại cho chủ sở hữu.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 17 tháng 9 năm 2021).
2. Căn cứ vào: điểm p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Huỳnh Thu Cẩm V 07 (bẩy) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 16 tháng 9 năm 2021).
3. Căn cứ vào: các điểm a, b và c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, các điểm a, b và c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):
+ Tịch thu và tiêu hủy: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, trong phong bì niêm phong số 1815/KLGĐ (số 01 và 02) ngày 23/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) bản sao chứng minh thư nhân dân số 142735805 mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 (một) chứng minh thư nhân dân số 100773127 mang tên Huỳnh Thu Cẩm V; 01 (một) sim điện thoại.
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen vàng đã qua sử dụng;
+ Trả lại cho chị Nguyễn Thị P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vespa màu trắng, biển kiểm soát 35B1-535.96 đã qua sử dụng;
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến Đ 01 (một) sổ hộ khẩu số 208 mang tên Trần Quang Bưởi;
+ Trả lại cho chị Hoàng Thị N số tiền 11.700.000đ (mười một triệu bảy trăm nghìn đồng).
Tình trạng những vật chứng nêu trên theo Biên bản giao vật chứng số: 124/BB-THA ngày 22/3/2022 giữa Công an thành phố Hạ Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
+ Tịch thu (truy thu) nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.250.000đ (mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Tiến Đ do phạm tội mà có.
4. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Tiến Đ và Huỳnh Thu Cẩm V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ vào: các khoản 1 và 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021): Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Những người CQL,NVLQ; - VKSND TP. Hạ Long; - VKSND T. Quảng Ninh; - CQĐT Công an TP. Hạ Long; - CQ THAHS Công an TP. Hạ Long; - Trại tạm giam Công an T. Quảng Ninh; - Chi cục THADS TP. Hạ Long; - TAND T. Quảng Ninh; - Sở tư pháp T. Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ; Lưu TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lâm |