vanban.org

Bản án 62/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội Tuyên án 19/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Đi u 249; điểm s khoản 1 Đi u 51; Đi u 38; Đi u 47

Bộ luật Hình sự năm 2015; Đi u 106, 136, 331 và Đi u 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Doãn Đức C phạm "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Đi u 249; điểm s khoản 1 Đi u 51; Đi u 38; Đi u 47
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HS-ST
Ngày 19/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trƣơng Thị Thanh Nhàn

Ông Vũ Quang Huy

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn,

thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/TLST-HS

ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/QĐXXST-HS

ngày 06 tháng 5 năm 2022, đối với:

* Bị cáo: Doãn Đức C, sinh năm 1994 tại Hà Nội. Nơi cư trú: Thôn T,

xã Phú C, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên bố: Doãn Đức Q (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn

Thị V; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Chưa

có; Danh chỉ bản số 151 do Công an huyện Sóc Sơn lập ngày 30/01/2022; Tiền

sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản n hình sự sơ thẩm số 14 ngà

28/3/2018, Tòa n nh n d n thị ã húc n, tỉnh nh húc ử phạt 02 năm t

về "Tội Tàng tr tr i ph p chất ma tú ", chấp hành ong hình phạt t ngà

27/9/2019, th ng 6 th ng 2018 đã nộp n ph (Đã được óa n t ch). Bị tạm gi ,

tạm giam từ ngày 29/01/2022 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ n được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 28/01/2022, Doãn Đức C (Sinh năm 1994, trú tại:

Thôn T, ã , hu ện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng (không nhớ biển kiểm soát) của một người bạn xã hội không quen biết đến khu vực Thanh Xuyên, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mua ma túy về sử dụng cho bản th n. Đến nơi, C gặp 01 người nam giới không quen biết, đặt vấn đề mua 200.000 đồng tiền ma tú “đ ” và “hồng phiến”. Người nà đồng ý, nhận tiền và đưa lại cho C 01 túi nilon bên trong chứa các tinh thể trắng và 01 mảnh viên nén màu hồng. Sau khi mua được ma tú , Cường điều khiển e đến khu vực c nh đồng g n đó sử dụng một ph n ma tú , số còn lại, Cường cất túi qu n b n tr i ph a trước và điều khiển e đi về. Sau khi trả e, Cường đi bộ đến phòng trọ của Ngu ễn ăn Thành (Sinh năm 1994, trú tại: Thôn Thụ ương, ã hú Cường, hu ện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội để ngủ nhờ. hoảng 01 giờ 45 phút c ng ngà , tổ công t c Công an ã hú Cường làm nhiệm vụ tại thôn Thụ ương đến kiểm tra tại phòng trọ của Thành, C đã tự giác giao nộp 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 mảnh viên nén màu hồng k ch thước 02 02 cm để trong túi qu n ph a trước b n tr i, C khai nhận là ma túy. Tổ công tác tiến hành niêm phong số vật chứng trên và đưa C, Thành về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Ngu ễn ăn Thành khai không biết việc Cường mang ma tú đến phòng trọ của mình n n Cơ quan điều tra không ử lý Thành về hành vi đồng phạm.

X t nghiệm tìm chất ma tú trong nước tiểu của Doãn Đức Cường và

Ngu ễn ăn Thành, kết quả dương t nh với ma tú .

Tại ản kết luận gi m định số 1037 / LGĐ- C09 ngà 05/02/2022 của

hòng thuật hình sự, Công an thành phố à Nội kết luận: 01 túi nilông b n trong có: Tinh thể màu trắng là ma tú loại Methamphetamine, khối lượng 0,105 gam; 01 mảnh vi n n n màu hồng là ma tú loại Methamphetamine, khối lượng 0,038 gam.

Đối với chiếc e m nhãn hiệu onda ave màu trắng, Cường khai

mượn của một người bạn ã hội không biết r nh n th n, địa chỉ tại ria đường quốc lộ 2, sau khi đi mua ma tú về, Cường đã trả luôn n n Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm r .

Đối với người b n ma tú cho Cường, Cường khai không biết rõ nhân

th n, đặc điểm của người bán n n Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Ngà 23/3/2022, Công an hu ện Sóc Sơn đã ra Qu ết định ử phạt vi

phạm hành ch nh đối với Ngu ễn ăn Thành về hành vi sử dụng tr i ph p chất ma tú , mức phạt 1.500.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Doãn Đức Cường đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai người chứng

kiến, người li n quan, kết luận gi m định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 28/4/2022, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Sóc Sơn đã tru tố bị cáo Doãn Đức C về "Tội tàng tr trái phép

chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự

năm

2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Doãn Đức C thừa nhận do bản th n là đối tượng nghiên ma túy

nên ngày 28/01/2022 đã tàng tr 0,143 gam ma túy loại Methamphetamine và bị

Cơ quan Công an kiểm tra, bắt gi . Bị c o c định số ma túy trên, bị cáo tàng

tr để sử dụng cho bản thân, không có mục đ ch b n cho người khác. Bị cáo

nhận thức được hành vi tàng tr trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và

xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn gi quyền công tố tại

phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một l n n a khẳng

định việc truy tố bị cáo Doãn Đức C về "Tội tàng tr trái phép chất ma túy"

theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người,

đúng tội, đúng ph p luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;

Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 135 Bộ luật Tố tụng

hình sự.

Xử phạt: Doãn Đức C từ 16 đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

tạm gi , ngày 29/01/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị c o là đối tượng nghiện,

không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong chứa ma túy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công

an huyện Sóc Sơn và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn

và Kiểm s t vi n trong qu trình điều tra, truy tố: Qu trình điều tra, truy tố và

tại phiên tòa, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc

khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c c hành vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị c o đã khai nhận

hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã n u và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/01/2022, tại khu vực thôn Thuỵ ương,

xã Phú C, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Doãn Đức C đã có hành vi tàng tr phép 0,143 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đ ch để sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, bắt gi .

Như vậy, hành vi của bị c o đủ dấu hiệu cấu thành "Tội tàng tr trái phép

chất ma túy" được qu định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật qu định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, Đ bị xử phạt vi phạm hành chính v hành vi quy định tại Đi u này

ho c đ bị kết án v tội này ho c một trong các tội quy định tại các đi u 24 , 250, 251 và 252 của ộ luật này, chưa được x a án tích mà c n vi phạm.

…

c)Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA ho c

XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

… ".

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tru tố bị cáo về "Tàng tr trái

phép chất ma túy" theo qu định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản

lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý. Hành vi tàng tr , sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn, tội phạm khác; là một vấn nạn mà xã hội đang l n n và đấu tranh nhằm loại trừ. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do thiếu tu dưỡng bản thân, không chấp hành qu định của pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do vậy c n phải có mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, gi o dục bị c o và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. hi lượng hình, Hội đồng xét xử em t đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

hi lượng hình, Hội đồng xét xử em t đến các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân

của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm

hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong qu trình điều tra và tại phiên tòa, bị c o đã

thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình n n được

hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qu định tại điểm s khoản 1 Điều

51 Bộ luật Hình sự. Đ là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm một ph n

hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật

đối với người phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về "Tội tàng tr

trái phép chất ma túy" và đã được xóa án tích.

Căn cứ vào c c qu định của Bộ luật Hình sự như đã n u tr n; căn cứ tính

chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân

người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét

xử thấy c n áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời

sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Theo qu định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật

Hình sự: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến

500.000.000 đồng". Xét bị c o là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề

nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung

là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong chứa ma túy là vật cấm

lưu hành nên c n tịch thu tiêu hủy theo qu định.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo

qu định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Đi u 249; điểm s khoản 1 Đi u 51; Đi u 38; Đi u 47

Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Đi u 106, 136, 331 và Đi u 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Đi u 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hình phạt:

Xử phạt: Doãn Đức C 15 (Mƣời lăm) tháng tù về "Tội tàng tr trái phép

chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày tạm gi , ngày 29/01/2022.

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì chứa ma tú đã ni m phong có ch ký của

bị cáo Doãn Đức C, Cán bộ công an huyện Sóc Sơn và Gi m định viên.

(Vật chứng đang được lưu gi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc

Sơn, tình trạng như i n bản bàn giao nhận vật chứng ngày 17/5/2022, gi a Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn .

3. Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( ai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ

thẩm để sung ng n s ch Nhà nước.

4. Về kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ