vanban.org

Bản án 62/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 11/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hành phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 11/8/2022. Giao bị cáo Trần Văn H1 cho Uỷ ban nhân dân phường MT, thị xã M, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thá…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm tham gia giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ M
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HS-ST
Ngày: 11-8-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Đức Huấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Dựng.

2. Ông Nguyễn Văn Xô.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thăng Long - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2022 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 29/2022/TB-TA ngày 04 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H1, sinh năm 1983 tại thị xã M, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư BN 3, phường MT, thị xã M, tỉnh Hải Dương; nghề ngH1: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị N1; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị T1 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 78/QĐ-XPHC ngày 30/7/2008, Trưởng Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000đ về hành vi đánh bạc; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Đào Thị N2, sinh năm 1987 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho chị Đào Thị N2: Anh Phạm Văn V1, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu dân cư BN 3, phường MT, thị xã M, tỉnh Hải Dương - Là chồng chị N2. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Phạm Văn V1, sinh năm 1989 (Là chồng chị N2).

+ Ông Đào Văn V1 và bà Hoàng Thị R1; địa chỉ: Thôn LX, xã HT, thị xã ĐT, tỉnh QN (Là bố, mẹ đẻ chị N2).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Vơ, bà Re: Anh Phạm Văn V1.

+ Các cháu: Phạm Thị Thanh H3, sinh năm 2010; Phạm Kim N4, sinh năm 2015 và Phạm Nhật A1, sinh năm 2018. địa chỉ: Khu dân cư BN 3, phường MT, thị xã M, tỉnh Hải Dương (Là các con của chị N2).

Người đại diện hợp pháp cho các cháu Huyền, Ngân và Ân: Anh Phạm Văn V1.

- Người làm chứng: Ông Phạm Văn Tuấn và anh Nguyễn Văn Huấn. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn H1 (có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 17/4/2018 có giá trị đến ngày 17/4/2023) thuê xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC, màu xanh, biển số 34C- 128.35 của Công ty TNHH và Vận tải Đức Trung do ông Bùi Đức Trung làm giám đốc, địa chỉ: BN 3- phường MT-thị xã M- tỉnh Hải Dương để chở đất thải san lấp mặt bằng khu đô thị Thành Công ở phường H1 An, thị xã M. Khoảng 16 giờ ngày 27/11/2021, H1 điều khiển xe ô tô tải trên từ khu đô thị Thành Công hướng phường Phú Thứ đi phường MT, trên đường Quốc lộ 17B đến đập 13 Công ty Xi măng Hoàng Thạch ở phường MT lấy đất thải. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến Km2+600 Quốc lộ 17B thuộc địa phận phường MT, đây là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 17B với đường Đốc Tít khu dân cư BN 3, có hệ thống đèn tín hiệu giao thông, khi còn cách ngã tư khoảng 5 đến 10m, H1 điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 40-45km/h đồng thời bật đèn xi nhan xin chuyển hướng rẽ phải để đi vào đường Đốc Tít (ưu tiên) đi Tử Lạc nhưng không chú ý quan sát. Khi H1 vừa điều khiển xe ô tô trên rẽ phải đi vào đường Đốc Tít (ưu tiên) thì phần góc trước bên phải ba đờ sốc cạnh đèn gầm của xe ô tô đã đâm vào tai xách phía sau bên trái xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Lead, màu vàng nâu biển số 34D1-343.57 do chị Đào Thị N2, sinh năm 1987, trú tại: KDC BN 3, phường MT, thị xã M, tỉnh Hải Dương điều khiển đi phía trước bên phải cùng chiều. Sau va chạm xe mô tô đổ nghiêng phải xuống đường, đầu xe hướng vào lề đường bên phải theo hướng đi cách đầu xe ô tô của H1 khoảng 40cm, chị N2 ngã nằm sấp xuống đường, đầu hướng vào lề đường bên phải theo chiều đi, chân hướng ra giữa đường. Lúc này H1 nghe thấy tiếng rầm và tiếng kéo lê loẹt xoẹt dưới gầm xe nhưng nghĩ đâm phải vật gì nên vẫn đi bình thường thêm khoảng 3 đến 5m thì thấy anh Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1966, trú tại: Khu dân cư BN 3, phường MT, thị xã M, tỉnh Hải Dương vẫy tay và hô to “tai nạn rồi” nên H1 đạp phanh cho xe dừng lại xuống kiểm tra thấy bánh xe phía trước bên phải xe ô tô của H1 chèn qua vùng bụng chị N2. H1 lên xe lùi lại khoảng 01m thì dừng lại và nhờ mọi người đưa chị N2 đi cấp cứu, chị N2 bị chết trên đường đi cấp cứu, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 27/11/2021 và kết quả xác định lại hiện trường ngày 10/02/2022 thể hiện: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 17B với đường Đốc Tít thuộc phường MT, thị xã M có hệ thống tín hiệu giao thông. Mặt đường Quốc lộ 17B và đường Đốc Tít được trải nhựa phẳng, có dải phân cách bằng bê tông đặt ở giữa đường Quốc lộ 17B để phân chia chiều đường cầu An Thái - cầu Đá Vách và ngược lại, lòng đường chiều cầu An Thái - cầu Đá Vách rộng 6,1m. Tính theo chiều phường Phú Thứ - phường MT và từ ngã tư lối mở đèn tín hiệu giao thông thuộc Km2+600 rẽ phải vào đường Đốc Tít đi Tử Lạc, bên phải đường Quốc lộ 17B có lối mở nhỏ ưu tiên đi vào đường Đốc Tít, đầu lối mở rộng 20m, mặt đường rộng 5m, lối mở ưu tiên này được ngăn cách với phần còn lại của lối mở vào đường Đốc Tít bằng đảo bê tông phân luồng đường rộng 2,6m. Lấy cột đèn tín hiệu giao thông trên dải phân cách bê tông ở giữa đường Quốc lộ 17B làm điểm mốc, lấy mép đường phải Quốc lộ 17B theo hướng cầu An Thái - cầu Đá Vách làm chuẩn. Khu vực này có đặt biển báo nguy hiểm, biển báo vòng xuyến khi qua nơi giao nhau ở lề đường bên phải Quốc lộ 17B, cách cột đèn tín hiệu giao thông trên dải phân cách bê tông ở giữa đường Quốc lộ 17B là 33m về hướng phường Phú Thứ. Cách cột đèn tín hiệu giao thông trên dải phân cách bê tông ở giữa đường Quốc lộ 17B là 11,5m hướng ngã tư về phía Tử Lạc - MT trên lề đường bên phải đường Đốc Tít (ưu tiên) đi Tử Lạc có đặt biển báo hiệu nguy hiểm giảm tốc độ. Cách biển báo nguy hiểm giảm tốc độ 8,2m về phía Tử Lạc-MT trên lề đường bên phải đường Đốc Tít (ưu tiên) có đặt biển chỉ dẫn dành cho người đi bộ sang ngang. Từ điểm mốc cách 2,2m hướng cầu An Thái là vị trí tâm trục sau bên trái xe ô tô biển số 34C-128.35, xe ô tô biển số 34C-128.35 nằm trên phần lối mở của đường Đốc Tít (ưu tiên), đầu xe hướng Tử Lạc, đuôi xe hướng đường Quốc lộ 17B, tâm trục sau bên trái cách mép đường chuẩn 3,1m, tâm trục trước bên trái cách mép đường chuẩn 6,4m được đánh số (1). Từ tâm trục sau bên trái xe ô tô biển số 34C-128.35 cách 2m hướng đường Đốc Tít (ưu tiên) đi Tử Lạc là vị trí đầu vết phanh bánh đơn xe ô tô và vết máu trượt trên mặt đường có kích thước (5,7m x 36cm) hướng đường Quốc lộ 17B - đường Đốc Tít (ưu tiên), đầu vết cách điểm mốc 4,2m, cuối vết cách điểm mốc 2m về hướng cầu Đá Vách được đánh số (2). Nằm trùng với cuối vết (2) là vị trí vết máu dạng loang có kích thước (1,4m x70cm), điểm gần nhất của vết máu cách điểm mốc 1,65m theo hướng đi cầu Đá Vách được đánh số (3). Từ tâm trục sau bên trái xe ô tô biển số 34C -128.35 cách 2,2m theo hướng đường Đốc Tít (ưu tiên) đi Tử Lạc là vị trí đầu tổ hợp các vết cà xước mặt đường không liên tục theo hướng đường Quốc lộ 17B - đường Đốc Tít (ưu tiên) đi Tử Lạc, đầu vết cách điểm mốc 3,5m, cuối vết cách điểm mốc 2,3m hướng cầu Đá Vách, có kích thước (4,3m x0,1cm) được đánh số (4). Từ tâm trục sau bên trái xe ô tô biển số 34C -128.35 cách 1,2m hướng đường Đốc Tít (ưu tiên) là vị trí đầu tổ hợp vết cà xước mặt đường không liên tục hướng đường Quốc lộ 17B- đường Đốc Tít (ưu tiên), có kích thước (6,4m x 02m), đầu vết cách điểm mốc 2,2m, cuối vết cách điểm mốc 90cm hướng cầu Đá Vách được đánh số (5).

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC, màu xanh biển số 34C- 128.35 thể hiện: ½ bề mặt hoa lốp bánh xe ô tô biển 34C-128.35 trước bên phải có dấu vết máu mô mỡ kích thước 25cm theo chiều vòng cung của lốp là 150cm, điểm gần nhất của dấu vết này cách chân van 10cm theo chiều bánh xe quay lùi. Tại góc trước bên phải ba đờ sốc cạnh đèn gầm bên phải có dấu vết trầy xước sơn kim loại kích thước (2,5 x 1)cm, điểm gần nhất cách mặt đất 81cm. Cách điểm cuối dấu vết này 7cm xuống dưới trở về giữa đầu xe là dấu vết trầy xước sơn kích thước (1,8 x 0,6) cm. Giữa 2 dấu vết này là vết trầy xước sơn trên bề mặt kim loại kẻ hình sợi chỉ. Điểm gần nhất cách mặt đất 76cm, cách cạnh ngoài bên phải ba đờ sốc 13cm. Mặt hoa lốp giữa phía trong bên phải có dấu vết máu mô mỡ nằm rải rác trên diện (6x150)cm.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Lead màu vàng nâu biển số 34D1-343.57 thể hiện: Phần cuối tai xách phía sau bên trái có dấu vết trầy xước kim loại kích thước (5x 0,8) cm trên bề mặt còn để lại dấu vết sơn màu xanh. Cạnh trái tay xách phía sau bên trái có dấu vết xước kim loại có kích thước (27x 3)cm. Cạnh ngoài bên phải tay xách có dấu vết trầy xước kim loại có kích thước (13 x1,5)cm. Cạnh ngoài để chân sau bên phải có dấu vết trầy xước kim loại trên diện (12 x2,5)cm. Ốp lườn sau bên phải có dấu vết trầy xước kim loại kích thước (12 x24)cm. Vết sơn màu xanh ở phần cuối tai xách phía sau bên trái cách mặt đất 81cm.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 27/11/2021 và Kết luận giám định pháp y về tử thi số 315/TT ngày 06/12/2021 của Trung tâm pháp y Hải Phòng-Sở y tế Hải Phòng kết luận chị Đào Thị N2 bị chấn thương bụng, khung chậu gây vết thương rách da phức tạp, gãy vỡ xương khung chậu phải, lộ các tạng trong khung chậu, các quai ruột ra ngoài qua vết thương. Nguyên nhân chị N2 bị tai nạn giao thông chết vì suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do đa chấn thương: chấn thương bụng, chấn thương khung chậu nặng.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi chị Đào Thị N2 chết gia đình chị N2 thống nhất ủy quyền cho anh Phạm Văn V1 là chồng chị N2 tham gia với tư cách là người đại diện hợp pháp của người bị hại. Quá trình điều tra Công ty TNHH và Vận tải Đức Trung và bị can Trần Văn H1 đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự cho gia đình chị Bùi Thị Nga. Đến nay anh Phạm Văn V1 không có yêu cầu đề nghị gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị can H1.

Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 22/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã M, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trần Văn H1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà:

- Đại diện VKSND thị xã M giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Văn H1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của BLHS đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe từ 12 tháng đến 24 tháng; về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; công nhận Quyết định truy tố của VKSND thị xã M về tội danh đối với bị cáo là đúng. Bị cáo xác định khi điều khiển cho xe ô tô chuyển hướng phải vào đường ưu tiên Đốc Tít, mặc dù bị cáo có quan sát phía trước, phía sau rồi bật xi nhan xin đường nhưng do vị trí xe mô tô do chị N2 điều khiển rơi vào “điểm mù” xe tải bị cáo điều khiển nên bị cáo không phát hiện ra chị N2 dẫn đến tai nạn. Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại-anh Phạm Văn V1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định: Sau khi sự việc không mong muốn xảy ra, bị cáo H1 đã đến gia đình anh xin lỗi và bồi thường xong về trách nhiệm dân sự. Gia đình anh không còn yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện sửa chữa sai lầm và giúp đỡ gia đình vì gia đình bị cáo H1 cũng rất khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi, quyết định tố tụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2014/TTLT-BYT-BCA ngày 23/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy định về xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì “Người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây tai nạn hoặc bị tai nạn giao thông được sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân đang làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn trong máu”. Tuy nhiên, sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra không tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu đối với bị cáo và bị hại là thiếu sót; còn lại các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và đại diện hợp pháp của bị hại, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám ngH1 phương tiện, kết luận giám định pháp y về tử thi và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 27/11/2021, tại Km2 + 600 Quốc lộ 17B thuộc khu dân cư BN 3, phường MT, thị xã M, Trần Văn H1 điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC, màu xanh, biển số 34C-128.35 theo hướng phường Phú Thứ đi phường MT rẽ phải vào đường Đốc Tít đi khu dân cư Tử Lạc, phường MT, thị xã M, khi cho xe chuyển hướng đã và chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead màu vàng nâu, biển số 34D1-343.57 do chị Đào Thị N2 điều khiển. Hậu quả chị N2 chết trên đường đi cấp cứu.

. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức rõ được việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, song bị cáo không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không tuân thủ về tốc độ xe chạy, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước của mình đã gây ra tai nạn. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 11; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, gây mất ổn định an ninh, trật tự, an toàn giao thông địa phương nói riêng, tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ nói chung nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND thị xã M đối với bị cáo là có căn cứ.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tính mạng cho gia đình bị hại. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

. Căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ tác dụng giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, HĐXX sẽ áp dụng các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 BLHS, cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 12 tháng.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead màu vàng nâu, biển số 34D1-343.57 cùng giấy tờ xe; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC, màu xanh, biển số 34C-128.35 cùng giấy tờ của xe; 01 giấy phép lái xe hạng C số 220107001074 mang tên Trần Văn H1. Quá trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thị xã M đã trả lại xe mô tô biển số 34D1-343.57 và giấy tờ xe cho gia đình chị Đào Thị N2 quản lý; trả lại xe ô tô biển số 34C-128.35 cùng giấy tờ liên quan cho Trần Văn H1 quản lý; tạm giữ 01 giấy phép lái xe của Trần Văn H1 là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường tổng số tiền 300.000.000đ cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết; đối với số tiền 100.000.000đ mà Công ty TNHH và Vận tải Đức Trung tự nguyện hỗ trợ bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại, trường hợp sau này hai bên có tranh chấp thì được giải quyền bằng vụ án dân sự.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 BLHS; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về… án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hành phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 11/8/2022.

Giao bị cáo Trần Văn H1 cho Uỷ ban nhân dân phường MT, thị xã M, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 12 tháng. Tạm giữ (lưu trong hồ sơ) 01 Giấy phép lái xe hạng C, số: 220107001074 của bị cáo Trần Văn H1.

2. Về án phí: Xử buộc bị cáo Trần Văn H1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ