vanban.org

Bản án 62/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Chị Cao Thị H được ly hôn anh Thái Văn C. Về con chung: Giao 01 con chung tên Thái Chí K, sinh ngày 23/5/2016 cho chị Cao Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Thái Văn C được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị H/Thái Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19/01/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấpvề nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tôi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quý Hòa;

2. Ông Phạm Minh Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Thường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 19/01/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 53/2021/TLST-HNGĐ ngày 29/12/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/01/2022, giữa các bên đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm 1991;

Địa chỉ: thôn K, xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Anh Thái Văn C, sinh năm 1989;

Địa chỉ: thôn K, xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 21/12/2021 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Cao Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Thái Văn C có tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoài Hảo, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định vào ngày 11/6/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thôn T, xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc có với nhau 01 con chung; từ đầu năm 2021, vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 8 năm 2021. Nay, chị xét thấy không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Thái Văn C.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên Thái Chí K, sinh ngày 23/5/2016 đang ở với chị, nay chị yêu cầu Tòa án tiếp tục giao con cho chị nuôi dưỡng; không yêu cầu anh Thái Văn C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Thái Văn C trình bày: anh thống nhất như trình bày của chị H về quá trình kết hôn, con chung và mẫu thuẫn vợ chồng; anh đồng ý ly hôn với chị Cao Thị H.

Về con chung: Anh C đồng ý giao con chung tên Thái Chí K, sinh ngày 23/5/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Đề nghị giao 01 con chung tên Thái Chí K, sinh ngày 23/5/2016 cho chị Cao Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của chị H.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Cao Thị H có đơn yêu cầu ly hôn anh Thái Văn C. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Thái Văn C có hộ khẩu thường trú tại xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Cao Thị H và anh Thái Văn C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh C.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Thái Văn C quen biết và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoài Hảo, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định vào ngày 11/6/2015 nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H, anh C sống tại thôn Khoa Trường, xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc có với nhau 01 con chung. Tuy nhiên, từ đầu năm 2021 vợ chồng chị H, anh C bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Xét thấy, tình cảm vợ chồng chị Cao Thị H và anh Thái Văn C mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cho dù có kéo dài cuộc sống vợ chồng cũng không hạnh phúc và thực tế họ đã ly thân từ tháng 8 năm 2021 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị H, anh C có 01 con chung tên Thái Chí K, sinh ngày 23/5/2016; cháu K hiện đang được chị H nuôi dưỡng ổn định, nên cần tiếp tục giao cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cao Thị H tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên cần ghi nhận sự tự nguyện của chị, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

Chị Cao Thị H được ly hôn anh Thái Văn C.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Thái Chí K, sinh ngày 23/5/2016 cho chị Cao Thị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Thái Văn C được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Công nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Cao Thị H, anh Thái Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: không xem xét.

5. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm, chị Cao Thị H phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010446 ngày 29/12/2021, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình định xét xử Phúc thẩm.

Cỡ chữ