- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kiều D và anh Bùi Minh L (vắng mặt bị đơn)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều D về việc “Ly hôn” với anh Bùi Minh L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HNGĐ-ST Ngày: 22-6-2022 V/v: “Tranh chấp ly hôn giữa Chị D và anh L” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Thành Phương
2. Bà Hồ Thị Đoan Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh - Thư ký TAND huyện C.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở TAND huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 139/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1998(có mặt);
Địa chỉ: p 2, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Bị đơn: Anh Bùi Minh L, sinh năm 1998(vắng mặt);
Địa chỉ: p Bà Ngh a, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2022 và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D trình bày: chị và anh Bùi Minh L xác lập hôn nhân do tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/8/2020. Chị và anh L chung sống hạnh phúc được 01 tháng đầu thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Chị và anh L đã sống ly thân từ tháng 6/2021 cho đến nay nhưng không bên nào có thiện chí hàn gắn tình cảm. Nay, chị D xét thấy không còn tình cảm với anh L, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Minh L.
-Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Bùi Hoàng Kh, sinh ngày 01/6/2021, hiện chị D đang nuôi dưỡng cháu Khôi. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: không có.
Về nợ: Không có nợ chung.
Tòa án tiến hành lập thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn anh Bùi Minh L vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Kiều D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Bùi Minh L. Anh L có nơi cư trú tại ấp Bà Ngh a, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Bị đơn anh Bùi Minh L đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L.
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều D và anh Bùi Minh L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2020 là hôn nhân hợp pháp. Theo chị D nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vã nhau. Hiện tại vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh L.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh L không đến Tòa án, chứng tỏ anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị D để vợ chồng đoàn tụ, chị D cương quyết ly hôn vì cho rằng vợ chồng đã ly thân, chị D không còn tình cảm với anh L và không có khả năng hàn gắn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị D yêu cầu được ly hôn với anh L là có căn cứ. Do đó, cần áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều D.
Về nuôi con chung: Theo chứng cứ do chị Nguyễn Thị Kiều D cung cấp, chị D và anh L có 01 con chung là cháu Bùi Hoàng Kh, sinh ngày 01/6/2021. Xét thấy, chị D là người đang trực tiếp nuôi cháu Kh và đã có cuộc sống ổn định; cháu Kh còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi được giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng điều này phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử quyết định cho chị D được tiếp tục nuôi cháu Bùi Hoàng Kh.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị D xác định không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản và nợ chung: Do anh L không có văn bản trình bày vấn đề này, chị D xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu các đương sự có tranh chấp, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kiều D và anh Bùi Minh L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều D về việc “Ly hôn” với anh Bùi Minh L.
1.Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều D được ly hôn với anh Bùi Minh L.
2.Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều D được tiếp tục nuôi con chung là cháu Bùi Hoàng Kh, sinh ngày 01/6/2021. Anh Bùi Minh L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, ngh a vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có ngh a vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0006036 ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
4.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện C; - CCTHADS huyện Cần Đ; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ, lưu án văn; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Nhung |