vanban.org

Bản án 62/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.

Buộc bà Hoàng Thị N, anh Trần Văn C phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đắk Song số tiền gốc tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 836.301 đồng, tiền lãi quá hạn là 722.836. Tổng tiền gốc và lãi là 26.559.137 đồng (Hai mươi sáu triệu N trăm N mươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/DSST
Ngày 21-9-2022
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Quang và ông Nguyễn Lê Giang.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lâm Oanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 N 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 184/2022/TLST-DS, ngày 03/6/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 N 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2022/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 N 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam;

Trụ sở: Số 169, phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Doãn Nguyễn Tây X- Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đắk Song – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị N – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn C – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Doãn Nguyễn Tây X trình bày:

Ngày 21/02/2017, bà Hoàng Thị N được Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đắk Song (NHCSXH) cho vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) món vay số khế ước 6600000709394492 chương trình vay hộ nghèo, mục đích sử dụng tiền vay mua trụ tiêu và phân bón; thời hạn vay 48 tháng; lãi suất cho vay 0,55%/tháng; lãi suất quá hạn bằng 130% lãi trong hạn, hạn cuối trả nợ ngày 10/5/2022. Bà N đã trả nợ số tiền gốc là 5.000.000 (N triệu đồng). Đến nay khoản vay đã quá hạn nhưng bà N chưa trả tiền gốc nên số tiền gốc còn nợ là 25.000.000đ, nợ lãi tính đến ngày 21/9/2022 là 1.559.137đ.

Hiện nay bà N đã chuyển đi nơi khác sinh sống nhưng chưa trả nợ theo quy định cho Ngân hàng. Do đó, NHCSXH khởi kiện yêu cầu bà N và anh C phải có nghĩa vụ liên đới trả tiền gốc và lãi tính đến ngày 21/9/2022 là 26.559.137 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 836.301 đồng, tiền lãi quá hạn là 722.836 và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản vay.

Đối với bị đơn bà Hoàng Thị N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn C : Quá trình giải quyết vụ án bà N và anh C không đến Tòa án để làm việc. Qua xác minh tại chính quyền địa phương được biết bà N và anh C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông. Hiện nay bà N đã bỏ đi khỏi địa phương,anh C vẫn có mặt và sinh sống tại địa phương nhưng Toà án không liên lạc được. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc thụ lý giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ quy định tại Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng và các điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của NHCSXH về việc buộc bà N và anh C phải có nghĩa vụ liên đới trả trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 21/9/2022 là 26.559.137 đồng (Hai mươi sáu triệu N trăm N mưoi chín nghìn một trăm ba mươi bảy đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong các khoản vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Chính sách xã hội là tổ chức tín dụng ký kết hợp đồng cho bà N vay tổng số tiền gốc là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) với mục đích hỗ trợ kinh tế hộ gia đình, các bên ký kết hợp đồng không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận nên căn cứ quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng là phù hợp. Bị đơn bà Hoàng Thị N cư trú tại Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà N và anh C vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông C.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào sổ vay vốn, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay- thu nợ- dư nợ thì NHCSXH thỏa thuận ký hợp đồng tín dụng và giải ngân cho bà Hoàng Thị N số tiền như sau: ngày 21/2/2017, giải ngân số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) theo chương trình Hộ nghèo, hạn trả cuối cùng ngày 10/5/2022. Xét thấy hợp đồng tín dụng nêu trên là sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, hợp đồng vay có lãi, có kỳ hạn trả nợ, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng và Điều 468 Bộ luật Dân sự, do đó các hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng.

Từ thời điểm nhận nợ cho đến nay bị đơn bà Hoàng Thị N mới trả được số tiền gốc 5.000.000 đồng, còn lại số tiền gốc 25.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 21/9/2022 là 1.559.137 đồng chưa thanh toán. Hiện nay bà N đã bỏ đi khỏi địa phương mà chưa trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà N còn nợ tổng số tiền 26.559.137 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 836.301, tiền lãi quá hạn là 722.836. Như vậy bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Đối với anh Trần Văn C là người ký tên “người thừa kế” trong sổ vay vốn nên anh C phải có nghĩa vụ liên đới cùng với bà N trả cho NHCSXH số tiền gốc và lãi nêu trên.

Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy khi đến hạn trả nợ, bên vay đã vi phạm nghĩa vụ không trả đầy đủ tiền gốc và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận hai bên ký kết trong hợp đồng, do đó căn cứ vào các quy định tại Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng và các điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, buộc bà N, anh C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng CSXH Việt Nam số nợ tiền gốc 25.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 836.301 đồng, lãi phạt quá hạn 722.836 đồng. Tổng tiền nợ gốc và lãi là 26.559.137 đồng.

Buộc bà N, anh C phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả nợ xong theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà Hoàng Thị N và anh Trần Văn C phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 1.327.956 đồng (Một triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn chín trăm N mươi sáu đồng).

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các 91, 95, điểm a, khoản 3, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; các điều 463, 468 và 688 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.

Buộc bà Hoàng Thị N, anh Trần Văn C phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đắk Song số tiền gốc tiền nợ gốc là 25.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 836.301 đồng, tiền lãi quá hạn là 722.836. Tổng tiền gốc và lãi là 26.559.137 đồng (Hai mươi sáu triệu N trăm N mươi chín nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).

Buộc bà N, anh C phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả nợ xong theo lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Hoàng Thị N và anh Trần Văn C phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 1.327.956 đồng (Một triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn chín trăm N mươi sáu đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.”

Cỡ chữ