- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH K14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 592 Bộ luật Dân sự; Điều 32 Bộ luật Dân sự; Điều 34 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/DSST Ngày: 26/4/2022 V/v: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lai Ngọc Trí
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
2. Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2022/TLST - DS ngày 28 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2022/QĐST – DS ngày 07 tháng 04 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: - Ông Nguyễn Quang Th., sinh năm 1991
- Ông Nguyễn Quang H., sinh năm 1942
Cùng địa chỉ: đường V, phường H, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Phan Tiến Th1., sinh năm 1979
Địa chỉ: đường V, phường H, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Tất cả các đương sự đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 10 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn ông Nguyễn Quang H., ông Nguyễn Quang Th. trình bày và yêu cầu: Vào lúc 15 giờ 00 ngày 18 tháng 8 năm 2021 ông Nguyễn Quang H. ra phần đất phía trước nhà cắt lá cây cho vật nuôi ăn. Theo nguyên đơn phần đất phía trước nhà là đất mương do gia đình ông sử dụng và quản lý từ năm 1976 đến nay, hiện con mương không còn công năng cấp thoát nước và được địa phương khuyến kích bồi đắp tiếp tục sử dụng. Do vướng víu nên ông Nguyễn Quang H. có cắt cỏ, dây leo giăng ngang trên phần đất, khi đó ông Phan Tiến Th1. trong nhà xông ra lớn tiếng quát nạt khiến ông Nguyễn Quang H. té ngã và mắng chửi ông Nguyễn Quang H. bằng lời lẽ thô tục, vô văn hóa ông già sắp chết, đồng thời vu khống ông H. là đồ ăn cướp, đe dọa đăng video ông và ông Nguyễn Quang H. lên mạng xã hội, đòi bỏ tù ông và ông Nguyễn Quang H.. Ông Nguyễn Quang H. đã già yếu nhưng ông Phan Tiến Th1. cố tình dùng lời lẽ kích động khiến ông Nguyễn Quang H. té ngã, tăng huyết áp. Ông Th. còn dùng điện thoại quay video với nội dung khiêu kích, chửi mắng, vu khống ông Nguyễn Quang H. trong đó có hình ảnh của ông Nguyễn Quang H. và Nguyễn Quang Th. đăng tải và nói xấu trên mạng xã hội Facebook với tiêu đề “gây sự mùa Covid không đeo khẩu trang”. Đến nay ông Phan Tiến Th1. vẫn không xóa gỡ nội dung đăng tải trên Facebook. Vì vậy, các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bị đơn ông Phan Tiến Th1. gỡ bài đăng trên trang Facebook, công khai xin lỗi ông và ông Nguyễn Quang H. tại khu vực và cam kết không tái phạm.
- Yêu cầu bồi thường cho nguyên đơn Nguyễn Quang Th. tổng số tiền là 14.900.000 đồng. Trong đó bồi thường thiệt hại do thu nhập bị giảm sút là 10.000.000 đồng, thiệt hại về tinh thần là 2.000.000 đồng, uy tính, danh dự bị xâm phạm là 2.900.000 đồng.
- Yêu cầu bồi thường cho nguyên đơn ông Nguyễn Quang H. tổng số tiền là 14.900.000 đồng. Trong đó bồi thường thiệt hại về tinh thần là 7.000.000 đồng, uy tính, danh dự bị xâm phạm là 5.000.000 đồng, sức khỏe bị giảm sút là 2.900.000 đồng.
* Bị đơn ông Phan Tiến Th1. trình bày: Mục đích ông quay lại video chỉ để phản ánh việc ông Nguyễn Quang H. cố ý hủy hoại và chặt cây trồng của ông, vì ông H. cho rằng ông trồng cây trên phần đất của ông H.. Việc ông đăng đoạn video lên tài khoản Facebook mục đích là nhằm lưu lại để làm chứng cứ sau này, ông không có ý xúc phạm danh dự, uy tính, nhân phẩm của các nguyên đơn. Vì vậy, ông không đồng ý bồi thường các khoản thiệt hại do các nguyên đơn yêu cầu do phía nguyên đơn có lỗi trong việc hủy hoại tài sản của ông. Đối với việc ông đăng đoạn video có hình cảnh của ông H. và ông Th. lên Facebook ông thừa nhận có lỗi nên đồng ý gỡ bài đăng xuống và đăng bài công khai xin lỗi, riêng việc công khai xin lỗi tại khu vực ông không đồng ý.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việc thụ lý của Toà án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách các đương sự, điều tra thu thập chứng cứ đầy đủ, gửi các văn bản tố tụng và hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng hạn. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Trên cơ sở xem xét chứng cứ và trình bày của đương sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc buộc bị đơn có trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần cho các nguyên đơn tổng số tiền 7.000.000 đồng (trong đó ông Nguyễn Quang H. 5.000.000 đồng và ông Nguyễn Quang Th. 2.000.000 đồng) và buộc nguyên đơn phải gỡ bài đăng đồng thời công khai xin lỗi trên chính phương tiện đã đăng bài. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường tổng số tiền 22.800.000 đồng về thu nhập bị giảm sút và danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Tại phiên tòa, các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường thiệt hại, bị đơn không đồng ý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định.
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện thể hiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường những thiệt hại về danh dự, uy tính và về tinh thần nên xác định đây là quan hệ “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” được quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn có địa chỉ tại quận Ninh Kiều nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Đối với yêu cầu buộc bị đơn ông Phan Tiến Th1. gỡ bài đăng trên trang Facebook, công khai xin lỗi tôi tại khu vực và cam kết không tái phạm. Căn cứ Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Trong trường hợp này việc bị đơn đã sử dụng hình ảnh của nguyên đơn khi chưa có sự đồng ý của nguyên đơn và cũng không thuộc một trong các trường hợp không cần sự đồng ý của người có hình ảnh, đồng thời đăng tiêu đề có ý xúc phạm danh dự nguyên đơn nên bị đơn đã vi phạm. Căn cứ khoản 3 Điều 32 và khoản 3 Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án buộc bị đơn chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và gỡ bỏ bài đăng và cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Bị đơn đã đồng ý gỡ bỏ bài đăng trên mạng xã hội và đăng bài công khai xin lỗi nguyên đơn, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Các nguyên đơn yêu cầu công khai xin lỗi tại khu vực do pháp luật không quy định nên không có căn cứ chấp nhận. Đối với yêu cầu về việc cam kết không tái phạm không có quy định nên không có căn cứ chấp nhận, trường hợp bị đơn tiếp tục vi phạm thì tùy theo mức độ mà bị xử lý theo quy định pháp luật.
- Đối với yêu cầu bồi thường bồi thường thiệt hại do thu nhập bị giảm sút của ông Nguyễn Quang Th.. Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn là người có lỗi trong việc đăng tải hình ảnh cá nhân của các nguyên đơn nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 592 Bộ luật Dân sự có căn cứ xem xét yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn Nguyễn Quang Th. đưa ra các chứng cứ chứng minh thiệt hại không cụ thể, ông Th. cung cấp sao kê chi tiết giao dịch nhưng qua đối chiếu mức lương của ông Th. trước và sau khi xảy ra sự việc không có sự giảm sút. Đồng thời, sự việc này không ảnh hưởng trực tiếp làm ông Th. phải mất việc hay mất thu nhập nên không có căn cứ để chấp nhận.
- Đối với ông Nguyễn Quang H. có cung cấp tóm tắt bệnh án của ông nhưng trong nội dung bản tóm tắt bệnh án chỉ thể hiện những bệnh lý của ông H. đã phát sinh trước đó và kéo dài đến nay, ngoài ra không có kết luận của bác sĩ về việc ông H. bị những bệnh lý đó là do xuất phát từ nguyên nhân nào. Do đó, chưa có cơ sở khẳng định việc ông H. bị bệnh là xuất phát từ việc ông Th. đăng đoạn video lên trang Facebook và làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự khiến bệnh trở nặng.
Đối với yêu cầu về việc buộc bị đơn bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho các nguyên đơn mỗi người 2.900.000 đồng. Xét thấy, trong quá trình khởi kiện các nguyên đơn không cung cấp chứng cứ để chứng minh thiệt hại, đồng thời nội dung các nguyên đơn yêu cầu đã trùng lắp với các yêu cầu trước đó, vì vậy không có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần của các nguyên đơn: Bị đơn có lỗi do đã sử dụng hình ảnh của người khác, vi phạm pháp luật, đăng video với tiêu đề có ý xúc phạm nguyên đơn, căn cứ khoản 2 Điều 592 BLDS thì có cơ sở để xem xét tổn thất tinh thần. Xét số tiền yêu cầu thiệt hại về tinh thần của các nguyên đơn, qua lời trình bày của nguyên đơn và những chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện sau sự việc bị đơn đăng tải nội dung video trên Facebook cuộc sống hàng ngày của các nguyên đơn không mặc dù không có sự xáo trộn nhiều, tuy nhiên vẫn có ảnh hưởng nhất định. Đối với với ông H. do tuổi đã lớn tuổi, sức khỏe yếu và là đối tượng bị tác động trực tiếp trong đoạn video bị đăng tải nên tinh thần cũng bị ảnh hưởng nhất định, vì vậy xét mức bồi thường thiệt hại về tinh thần 5.000.000 đồng đối với ông H. là phù hợp. Đối với ông Nguyễn Quang Th. cũng là đối tượng bị tác động, ảnh hưởng từ việc đoạn video bị đăng tải nhưng với mức độ nhẹ hơn, do đó mức bồi thường tổn thất tinh thần 2.000.000 đồng là phù hợp.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 6 Điều 26, 35, 39, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 32, 34, 585, 592 Bộ luật dân sự 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH K14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quang Th. và Nguyễn Quang H..
- Buộc bị đơn ông Phan Tiến Th1. phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho các nguyên đơn tổng số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Trong đó, bồi thường cho ông Nguyễn Quang H. là 5.000.000 đồng, ông Nguyễn Quang Th. là 2.000.000 đồng.
Buộc bị đơn đăng bài xin lỗi công khai các nguyên đơn trên mạng xã hội Facebook cá nhân của bị đơn. Không chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn xin lỗi công khai tại khu vực.
- Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị giảm sút 10.000.000 đồng, thiệt hại về uy tính, danh dự bị xâm phạm là 2.900.000 đồng của ông Nguyễn Quang Th..
- Không chấp nhận yêu cầu thường thiệt hại về tinh thần 2.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại uy tính, danh dự bị xâm phạm là 5.000.000 đồng, sức khỏe bị giảm sút là 2.900.000 đồng của ông Nguyễn Quang H..
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Các nguyên đơn không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
4. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND Q. Ninh Kiều; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lai Ngọc Trí |