vanban.org

Bản án 62/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 19/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm

2010; các Điều 147 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Cty Galaxy - B"
  • Tòa quyết gì? sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 62/2022/DS-ST
Ngày: 19 / 8 / 2022
V/v tranh chấp hợp đồng
tín dụng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thế Mỹ

2. Bà Trần Thị Ánh Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Toà án nhân dân thành

phố K, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố K xét xử

sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 131/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 6

năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2022,

Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 14/TB-TA ngày 27/7/2022 và Thông báo

mở lại phiên tòa số 20/TB-MLPT ngày 05/8/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy (gọi tắt Công ty

Galaxy), trụ sở chính: số 5 đường D1, phường L, thành phố T.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Chức vụ:

Giám đốc; địa chỉ liên hệ: số 5 đường D1, phường L, thành phố T.

Đại diện theo ủy quyền: Công ty luật TNHH Đại Long, địa chỉ: Số 81,

Nguyễn Hiền, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Đại diện theo ủy quyền của Công ty luật TNHH Đại Long: Ông Trần Hữu

Ý - Chức vụ: Nhân viên, địa chỉ: F2-73, đường Nguyễn Thị Sáu, KV Thạnh

Thới, phường Phú Thứ, quận C, thành phố C.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1978, địa chỉ: tổ 1, ấp C, xã C, thành

phố K, tỉnh An Giang.

Ông Ý có mặt tại phiên tòa, bà B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng

mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đại diện theo ủy quyền của

nguyên đơn tại phiên tòa trình bày: Vào ngày 04/9/2018, bà Nguyễn Thị B có ký hợp đồng tín dụng số 20180904-0002910 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC vay số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng với lãi suất thỏa thuận 4,42% tháng để tiêu dùng cá nhân.

Theo thoả thuận trong hợp đồng, bà B có trách nhiệm thanh toán số tiền

100.756.228 (Một trăm triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi tám) đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng; 35 tháng đầu, mỗi tháng trả 2.799.000 (Hai triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn) đồng, tháng cuối cùng trả 2.791.228 (Hai triệu bảy trăm chín mươi một nghìn hai trăm hai mươi tám) đồng, bắt đầu từ ngày 06/10/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà B đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân

và thanh toán cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC 07 lần với tổng số tiền đã trả 16.836.000 (Mười sáu triệu tám tám ba mươi sáu nghìn) đồng. Kể từ ngày 08/3/2019 đến nay, bà B không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Ngày 29/03/2021, khoản nợ của bà B được Công ty tài chính TNHH MTV

Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003.

Do bà B trễ hạn thanh toán nên Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy yêu

cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị B thanh toán toàn bộ số nợ còn lại là 83.920.228 (Tám mươi một triệu chín trăm hai mươi nghìn hai trăm hai mươi tám) đồng (trong đó nợ gốc là 464.058.862 đồng và tiền lãi 37.861.366 đồng).

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện là: Văn bản Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20180904-0002910 ngày 04/9/2018, bảng kế hoạch trả nợ, lịch sử thanh toán, Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003 ngày 29/3/2021 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà

Nguyễn Thị B trình bày: Bà có vay Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng với lãi suất thỏa thuận 4,42% tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thoả thuận trong hợp đồng, bà B có trách nhiệm thanh toán số tiền 100.756.228 đồng (gồm cả gốc và lãi). Sau khi vay, bà B đã trả cho Công ty số tiền 16.836.000 và còn nợ số tiền

83.920.228 đồng. Kể từ ngày 08/3/2019 đến nay, bà B không thanh toán nợ cho

Công ty.

Tại biên bản ghi nhận lời khai và biên bản hòa giải ngày 12/7/2022, bà B

xác định còn nợ Công ty Galaxy số tiền 83.920.228 đồng. Do điều kiện hoàn

cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng trả một lần số tiền trên,

xin trả dần mỗi tháng 700.000 đồng cho đến khi trả dứt nợ.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa

giải giữa các đương sự nhưng không thành.

Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn trình bày: Quá trình giải quyết tại Tòa án, bà

Nguyễn Thị B có gửi trả thêm vốn 2.000.000 đồng. Nay Công ty Galaxy yêu cầu

bà Nguyễn Thị B trả một lần số tiền còn lại 81.920.228 đồng (vốn gốc là

44.058.862 đồng, tiền lãi 37.861.366 đồng), không đồng ý theo yêu cầu của bà B

trả dần mỗi tháng 700.000 đồng cho đến khi trả dứt nợ.

- Chủ tọa công bố lại lời khai của bà B.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong

thời gian chuẩn bị xét xử đúng pháp luật: Thẩm phán được phân công thụ lý giải

quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân

sự. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý

của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết

giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 97 và 98 Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về

việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực

hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án: Năm 2018, bà Nguyễn Thị B ký kết Hợp đồng tín

dụng với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Thịnh Vượng SMBC vay

50.000.000 đồng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Ngay 29/3/2021,

Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Thịnh Vượng SMBC bán toàn bộ dư nợ của

bà Nguyễn Thị B cho Công ty Galaxy, như vậy Công ty Galaxy là người thế

quyền. Bà B không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi là vi phạm thỏa

thuận theo hợp đồng, vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B

phải thanh toán vốn gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng số tiền 81.920.228 đồng

là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 365, 463, 466, 468, 450 Bộ luật Dân

sự năm 2015 và Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017. Việc bà

Nguyễn Thị B yêu cầu được trả dần nhưng nguyên đơn không chấp nhận nên

không có căn cứ giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng

vay tài sản với bị đơn bà Nguyễn Thị B có nơi cư trú tại thành phố Châu Đốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị B đã được

Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà B theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

* Về nội dung:

Về hợp đồng tín dụng:

Ngày 04/9/2018, bà Nguyễn Thị B có ký hợp đồng tín dụng số 20180904-

0002910 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC vay số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng với lãi suất thỏa thuận 4,42% tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thoả thuận bà B có trách nhiệm thanh toán số tiền 100.756.228 (Một trăm triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi tám) đồng (gồm cả gốc và lãi). Quá trình thực hiện hợp đồng, bà B thanh toán cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được 07 lần với tổng số tiền đã trả 16.836.000 (Mười sáu triệu tám tám ba mươi sáu nghìn) đồng và ngưng trả từ ngày 08/3/2019 đến nay. Sau đó, Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC đã chuyển nhương khoản nợ của bà B cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy, bà B không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù công ty đã nhiều lần nhắc nhở. Tính đến ngày 06/9/2021, bà B còn nợ Công ty Galaxy số tiền là 83.920.228 đồng (nợ gốc là 46.058.862 đồng, tiền lãi là 37.861.366 đồng). Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định bà B đã trả thêm 2.000.000 đồng tiền vốn. Do vậy, số nợ vốn lãi còn lại của bà B là 81.920.228 đồng.

Bà Nguyễn Thị B xác định ngày 04/9/2018, có ký hợp đồng vay tiền với

Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC. Quá trình vay bà B không thực hiện đúng theo thỏa thuận. Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC đã bán khoản nợ lại cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy và Công ty Galaxy khởi kiện yêu cầu bà B trả khoản nợ còn lại, bà B đồng ý nhưng xin trả dần mỗi tháng 700.000 đồng cho đến khi hết vì hiện nay hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Xét, giữa Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng

SMBC và bà Nguyễn Thị B có ký kết hợp đồng tín dụng để bà B vay tiền. Hợp đồng giữa các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng. Quá trình vay do bà B không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay.

Ngày 29/3/2021, Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh

Vượng SMBC đã bán khoản nợ vay của bà B cho Công ty TNHH Mua Bán Nợ

Galaxy theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003, với số dư nợ

là 81.920.228 đồng, nên công ty TNHH Mua Bán Nợ Galaxy có quyền yêu cầu

bà B thanh toán nợ theo hợp đồng vay. Quá trình thu hồi nợ Công ty Galaxy đã

nhiều lần nhắc nhở nhưng bà B không trả nên Công ty Galaxy đã khởi kiện.

Việc Công ty Galaxy khởi kiện yêu cầu bà B trả số tiền nợ còn lại 81.920.228

đồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 365, Điều 450, Điều 463,

Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bà Nguyễn Thị B trả cho Công ty Galaxy số tiền 81.920.228 đồng

(vốn gốc 44.058.862 đồng, tiền lãi là 37.861.366 đồng).

Nếu quá hạn thỏa thuận hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của

người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành

án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi

hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức

lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về phương thức thanh toán: bà Nguyễn Thị B xin trả dần mỗi tháng

700.000 đồng nhưng không được phía nguyên đơn chấp nhận nên không có căn

cứ để xem xét.

Án phí:

Bị đơn có trách nhiệm trả nợ cho Công ty Galaxy nên phải chịu án phí dân

sự sơ thẩm là 4.096.011 đồng.

Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân

sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 365, Điều 450, Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân

sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm

2010; các Điều 147 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều

26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu

hạn mua bán nợ Galaxy.

Buộc bà Nguyễn Thị B trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ

Galaxy số tiền 81.920.228 (Tám mươi một triệu, chín trăm hai mươi nghìn, hai

trăm hai mươi tám) đồng (vốn gốc 44.058.862 đồng, tiền lãi là 37.861.366

đồng).

Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi

hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Án phí:

Bà Nguyễn Thị B phải chịu 4.096.011 (Bốn triệu không trăm chín mươi

sáu nghìn không trăm mười một) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Galaxy không phải chịu án phí

dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Galaxy số tiền 2.098.006 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai 0002281 ngày 27 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

[3] Quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Công ty Trách nhiệm hữu hạn

mua bán nợ Galaxy có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị B là 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ