vanban.org

Bản án 62/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân P 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng kể từ ngày tuyên án 17/7/2021. Giao bị cáo Nguyễn Xuân P cho Uỷ ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/HSST
Ngày: 17/7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Mai

2. Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17/7/2021, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2021/HSST, ngày 14/5/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXXST-HS ngày 27/5/2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân P, sinh năm 1968 tại thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Số 132 H, khu 2, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân L (đã chết) và bà Phan Thị H; Có vợ là Đỗ Thị Thanh H và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.

* Bị hại: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Cụ ông Hoàng Văn H, sinh năm 1933;

Địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

2. Cụ bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1933;

Địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

3. Bà Lê Thị C, sinh năm 1965;

Địa chỉ: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

4. Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Khu dân cư V, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

5. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1988;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 1, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của cụ H, cụ Q, bà C, chị T: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1988;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 1, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty T

Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Chí C - Giám đốc.

Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương;

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Số 164 đường H, quận H, thành phố H, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân P (có giấy phép lái xe số 300106300522, hạng E, do Sở giao thông vận tại tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/01/2018, có giá trị đến ngày 31/01/2023), là nhân viên lái xe buýt của công ty T. Khoảng 15 giờ ngày 11/01/2021, Nguyễn Xuân P điều khiển xe ô tô biển số 34B-020.92, nhãn hiệu TRANSINCO, loại xe buýt, màu sơn vàng đỏ, dung tích 4751cm3, mang số hiệu 208 Hải Dương - Bắc Giang, đi trên Quốc lộ 37 theo hướng Bắc Giang - Sao Đỏ. Khi đi đến km 95+400 thuộc địa phận thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Đây là đoạn đường được trải bê tông nhựa, bằng phẳng, lòng đường rộng 6,8m, giữa tim đường có vạch kẻ đường đứt quãng, màu vàng để phân chia đường thành hai chiều xe chạy, đoạn đường cong hướng bên trái tính theo chiều Bắc Giang đi Sao Đỏ, trên mặt đường có các gờ giảm tốc màu vàng, có biển cảnh báo nguy hiểm ký hiệu W201a (chỗ ngoặt nguy hiểm hiểm vòng trái) và biển ký hiệu P127 (tốc độ tối đa cho phép 50km/h). Phú điều khiển xe đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại được một cách an toàn, dẫn đến đầu xe phía trước bên trái của xe ô tô va chạm với tay lái, đầu xe phía trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 34C1-326.00, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe X-BIKE, dung tích 124cm3, màu sơn đen, do ông Hoàng Văn H điều khiển đang đi ngược chiều và chuyển hướng từ mép đường bên trái sang bên phải theo hướng Sao Đỏ - Bắc Giang, đẩy xe mô tô của ông H đổ nghiêng trái, mắc vào gầm phần đầu bên trái của xe ô tô, bị kéo rê trên mặt đường 7,85m, ông H văng khỏi xe về phía trước 4,1m, đầu đập xuống mặt đường, chấn thương sọ não (vỡ xương vòm sọ), chết trên đường đi cấp cứu, xe ô tô biển kiểm soát 34B-020.92 bị thiệt hại 9.450.000đ, xe mô tô biển kiểm soát 34C1-326.00 bị thiệt hại 865.000 đồng.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 316/GĐPY ngày 18/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương xác định nguyên nhân chết của ông Hoàng Văn H là chấn thương sọ não (vỡ xương vòm sọ).

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Xuân P đã tự nguyện bồi thường cho phía gia đình người bị hại số tiền là 100.000.000đ.

Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-CL ngày 14/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Xuân P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Xuân P thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; Điều 41; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân P từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Xuân P cho Uỷ ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Xuân P hành nghề lái xe ô tô trong thời gian từ 01 đến 02 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tạm giữ giấy phép lái xe ôtô số: 300106300522, hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp cho bị cáo Nguyễn Xuân P ngày 31/01/2018 để lưu trong hồ sơ vụ án cho đến khi hết thời gian cấm hành nghề lái xe ôtô đối với bị cáo. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 11/01/2021, tại Km 95+400 Quốc lộ 37, thuộc địa phận thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Xuân P có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô buýt, biển số 34B-020.92 trên Quốc lộ 37, đi hướng Bắc Giang - Sao Đỏ, do không tuân thủ quy định về biển báo nguy hiểm giao thông đường bộ “chỗ ngoặt nguy hiểm vòng trái” (ký hiệu W201a) và biển báo “tốc độ tối đa cho phép 50km/h” (ký hiệu P127): không giảm tốc độ có thể dừng lại một cách an toàn nên đã để xe do mình điều khiển va chạm với xe mô tô mang biển số 34C-326.00 do ông Hoàng Văn H điều khiển ngược chiều, chuyển hướng sang đường. Hậu quả làm ông H tử vong trên đường đi cấp cứu, 02 xe mô tô bị hư hỏng, tổng thiệt hại 10.315.000đ (xe ô tô thiệt hại: 9.450.000đ; xe máy thiệt hại 865.000đ).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ không tuân thủ quy định về biển báo nguy hiểm giao thông đường bộ “chỗ ngoặt nguy hiểm vòng trái”; không giảm tốc độ có thể dừng lại một cách an toàn là vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải, nhưng do cẩu thả, không chấp hành quy định nên đã dẫn đến tai nạn. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho phía gia đình bị hại tổng số tiền là 100.000.000đ, được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Bản thân bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân L được Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Khi xảy ra va chạm, người bị hại ông Hoàng Văn H điều khiển xe máy đi ngược chiều, chuyển hướng sang đường không đảm bảo an toàn, không có tín hiệu báo hướng rẽ, không nhường đường cho xe đi ngược chiều, đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của ông H cũng có lỗi dẫn đến vụ tai nạn. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này luôn tôn trọng quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách pháp luật, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm, chưa bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, do vậy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hành nghề lái xe ô tô lại vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, do vậy, cần áp dụng điều 41, khoản 5 điều 260 Bộ luật hình sự cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong một thời gian nhất định để đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo, cũng như đảm bảo sự an toàn cho những người tham gia giao thông.

Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông H số tiền 100.000.000đ. Những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị cáo đã thỏa thuận giải quyết với nhau và không yêu cầu tòa án giải quyết về dân sự nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Sau khi tạm giữ các phương tiện để phục vụ công tác điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh đã trả lại chiếc xe ô tô biển số 34B-020.92, nhãn hiệu TRANSINCO, loại xe buýt, dung tích 4751cm3, màu sơn vàng đỏ, số máy F21700409305, số khung: EB4T7A002155 cho chủ sở hữu là Công ty T; trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 34C1-326.00, nhãn hiệu SUZUKI, loại xe X-BIKE, dung tích 124cm3, màu sơn đen, số máy: F4A3100417, số khung: 45P070100417 cho gia đình ông H. Việc trả xe như vậy là phù hợp nên không đặt ra xem xét, giải quyết về việc xử lý vật chứng.

Đối với giấy phép lái xe ô tô số: 300106300522, hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp cho bị cáo Nguyễn Xuân P ngày 31/01/2018 (có giá trị đến ngày 31/01/2023). Do bị cáo bị cấm hành nghề lái xe ô tô nên cần tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe này của bị cáo để lưu trong hồ sơ vụ án cho đến khi hết thời gian cấm hành nghề lái xe ôtô theo theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; Điều 41; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân P 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng kể từ ngày tuyên án 17/7/2021.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân P cho Uỷ ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Xuân P hành nghề lái xe ô tô trong thời gian 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng: Tạm giữ giấy phép lái xe ôtô số: 300106300522, hạng E do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp cho bị cáo Nguyễn Xuân P ngày 31/01/2018 để lưu trong hồ sơ vụ án cho đến khi hết thời gian cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ