vanban.org

Bản án 62/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 07/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Lò Khừ X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lò Khừ X: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, kể từ ngày 03/3/2021 đến ngày 12/3/2021. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Khừ X - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lò Khừ X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/HSST
Ngày: 07/07/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ông: Lò Xuân Hải.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà: Vàng Thị Thu.

Ông: Lý Ngọc Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa ông: Nguyễn Thành Luân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 07 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2021/TL-ST-HS, ngày 24 tháng 05 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 06 năm 2021 đối với bị cáo.

1. Lò Khừ X - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày 15/9/1998; Tại: xã Tá B, huyện M, tỉnh L; Nơi cư trú: Bản Lạ P, xã Tá B, huyện M, tỉnh L; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: không; Con ông Lò Phí T (Đã chết) và con bà Thàng Mì X - Sinh năm 1956; Vợ: Giàng Go D - Sinh năn 1999; Con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt, bị tạm giữ từ ngày 03/3/2021 đến ngày 12/3/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.

2. Người bào chữa cho bị cáo Lò Khừ X: Ông Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu - Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ, ngày 02/03/2021 Lò Khừ X đi bộ từ nhà Giàng Go M ở xã Tá B đến bản Vạ P, xã Tá B với mục đích đi chặt củi rừng mang về nhà đun nấu, khi đến khu vực giáp ranh giữa bản Tá B và bản Vạ P, X gặp một người đàn ông lạ mặt, qua trao đổi X đã mua được của người đàn ông này 02 (hai) gói Heroine (mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng) với giá 50.000 đồng, sau đó X cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc trên người, tiếp tục đi chặt củi xong thì vác củi quay về nhà M rồi cùng vợ nấu ăn. Sau khi ăn cơm tối xong, đến 21 giờ 10 phút cùng ngày 02/03/2021 tại nhà M, X lấy 04 (bốn) mảnh giấy bạc, 01 (một) bật lửa ga màu tím và 02 (hai) gói Heroine ra để sử dụng thì bị Công an xã Tá B phát hiện bắt quả tang, lập biên bản thu giữ tòa bộ vật chứng theo quy định, X đã khai nhận 02 (hai) gói Heroine bị thu giữ là của X.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số: 27/KLGĐ ngày 03/3/2021 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M kết luận: 02 (hai) gói vật chứng thu giữ của Lò Khừ X có khối lượng là 0,13 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 273/GĐ-KTHS ngày 05/3/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện B kết luận: 02 (hai) mẫu vật gửi giám định của Lò Khừ X là chất ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-MT ngày 21 tháng 5 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố Lò Khừ X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò khừ X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Khừ X từ: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu trắng còn lại sau khi cân tịch xác định khối lượng; 04 (Bốn) mảnh giấy bạc, 01 (Một) bật lửa ga màu tím của Lò Khừ X.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại bản luận cứ bào chữa, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy", điều luật áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 cho bị cáo. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa. Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm về mức hình phạt đã đề nghị.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, nhất trí với bản luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Đối với người bào chữa đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt do trở ngại khách quan, đã gửi trước bản luận cứ bào chữa cho Tòa án kèm theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại phiên Tòa bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Căn cứ khoản 1 Điều 291 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người bào chữa.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 21 giờ 10 phút ngày 02/3/2021 tại nhà chị Giàng Go M ở bản Tá B, xã Tá B, huyện M, tỉnh L. Lò Khừ X đã có hành vi tàng trữ trái phép 02(hai) gói Heroine có tổng khối lượng là 0,13 gam, mục đích là để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu hành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

. Đề nghị của kiểm sát viên, người bào chữa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền, miễn án phí và xử lý vật chứng là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

. Về tình tiết tăng nặng xét bị cáo Lò Khừ X không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Lò Khừ X luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét thấy bị cáo Lò Khừ X là người dân tộc La Hủ, nhận thức pháp luật hạn chế, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ nghèo của xã Tá B, huyện M, là xã biên giới có hoàn cảnh kinh tế, xã hội khó khăn. Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân bị cáo Lò Khừ X có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 06/12, rồi ở nhà tham gia lao động tại địa phương, bản thân bắt đầu sử dụng chất ma túy, đã được gia đình giáo dục nhiều lần, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, để thỏa mãn cơn nghiện chất ma túy của bản thân nên đã phạm tội.

. Về hình phạt bổ sung, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, xét thấy: Điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình và bản thân bị cáo thuộc hộ nghèo của xã Tá B, huyện M, là xã biên giới có hoàn cảnh kinh tế, xã hội khó khăn, bị cáo là người dân tộc thiểu số (La Hủ), không có thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì cho bị cáo.

. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu trắng còn lại sau khi cân tịch xác định khối lượng; 04 (Bốn) mảnh giấy bạc, 01 (Một) bật lửa ga màu tím của Lò Khừ X.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử xét thấy. Điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo Lò Khừ X khó khăn, thuộc hộ nghèo của xã Tá B, là dân tộc thiểu số La Hủ, bản thân không có thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine cho Lò Khừ X. Trong qua trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không đủ căn cứ để xử lý và Viện kiểm sát nhân dân huyện M không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Đối với Giàng Go M và Giàng Go D không biết việc Lò Khừ X đi mua Heroine để tàng trữ, sử dụng, do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Lò Khừ X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Căn cứ Điều 38, Điều 50, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 291 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lò Khừ X: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, kể từ ngày 03/3/2021 đến ngày 12/3/2021. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu trắng còn lại sau khi cân tịch xác định khối lượng; 04 (bốn) mảnh giấy bạc, 01 (một) bật lửa ga màu tím của Lò Khừ X.

- Về án Phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng cho bị cáo Lò Khừ X.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ