- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2021/HS-ST Ngày 26-4-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Minh Tùng;
2. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thanh H, sinh năm 1980, tại tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ thường trú: Buôn E, xã Ea Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Thanh H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ tên Đào Thị T và 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại điều tra, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Phạm Bắc N, sinh năm 1987, chết ngày 06/02/2020.
2. Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr, sinh năm 1979, chết ngày 06/02/2020.
3. Lê Văn T, sinh năm 2001, chết ngày 06/02/2020.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Bắc Nam:
1. Ông Phạm Phú X, sinh năm 1966; có mặt.
2. Bà Trần Thị A, sinh năm 1965; có mặt.
Cùng thường trú tại: Ấp L, xã Vĩnh H, huyện P, tỉnh Bình Dương (là cha và mẹ ruột của bị hại N).
3. Bà Triều Thúy Q, sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: Số 123, tổ 1, ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương (vợ của bị hại N); vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr:
1. Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1956; hộ khẩu thường trú: Số 86, Bùi Thị X, khu phố 2, thị trấn Phước V, huyện P, tỉnh Bình Dương (mẹ ruột của bị hại Tr); có mặt.
2. Ông Lê Hồng Th, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: Số 86, Bùi Thị X, khu phố 2, thị trấn Phước V, huyện P, tỉnh Bình Dương (chồng của bị hại T); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn T:
1. Ông Lê Văn Th, sinh năm 1950; vắng mặt
2. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1954; có mặt.
Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương (là cha mẹ ruột của bị hại Tâm).
Nguyên đơn dân sự:
1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1947; vắng mặt.
2. Bà Võ Thị L, sinh năm 1955; vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1986; vắng mặt.
Cùng đăng ký thường trú: Khu phố 1B, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn dân sự:
1. Ông Lê Văn C, sinh năm 1975; trú tại: Thôn 1B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (chủ xe khách biển số 47B-010.49); vắng mặt.
2. Ông Kiều Hoàng K, sinh năm 1985: trú tại: Ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương (chủ xe tải biển số 61C-339.61); vắng mặt.
Người làm chứng:
Ông Linh Chí B, có mặt.
Ông Lâm Văn T, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh H được sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp giấy phép lái xe hạng E số 660085007387 ngày 31/5/2015 thời hạn đến 31/5/2022. Khoảng 03 giờ 50 phút ngày 06/02/2020, Trần Thanh H trực tiếp điều khiển xe ô tô khách biển số 47B-010.49 lưu thông trên đường DT741 theo hướng đi từ Phú Giáo đến ngã tư Sở Sao, trên xe có khoảng 30 hành khách. Khi đến khu vực thuộc khu phố 1B, phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì H điều khiển xe ô tô khách biển số 47B-010.49 chạy trên làn đường ô tô con sau đó xảy ra va chạm với xe ô tô tải biển số 61C-339.61 do Phạm Bắc N trực tiếp điều khiển, trên xe ô tô tải biển số 61C- 339.61 chở theo Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr và Lê Văn T lưu thông chiều ngược lại, trên làn đường ô tô con (theo hướng từ Phú Giáo đi ngã tư Sở Sao). Sau va chạm ô tô khách biển số 47B-010.49 chuyển hướng vào lề phải theo hướng đang lưu thông và tông vào nhà của ông Nguyễn Văn L tại khu phố 1B, phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương rồi dừng lại. Tai nạn xảy ra làm tài xế xe tải Phạm Bắc N tử vong tại hiện trường. Tr và T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương đến 7 giờ cùng ngày thì tử vong.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 04 giờ 30 phút ngày 06/02/2020 đến 09 giờ 00 ngày 06/02/2020, xác định:
+ Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường DT741 cong phẳng, khô, mặt đường được trải nhựa, tầm nhìn quan sát không bị hạn chế, có biển báo phân vạch kẻ đường, có vạch kẻ màu vàng hai vạch liền phân chia thành hai hướng xe chạy ngược chiều nhau. Chiều rộng mặt đường là 21m30, làn đường mô tô 3m40, làn ô tô tải là 3m70, làn ô tô con là 3m50.
+ Lấy lề phải theo hướng xe lưu thông từ Phú Giáo đến ngã tư Hòa Lợi làm lề chuẩn.
+ Lấy trụ điện số 27 trong lề chuẩn làm cột mốc.
Hiện trường vụ tai nạn để lại như sau:
+ Vết phanh trục sau bên trái của ô tô khách biển số 47B-010.49 có: dấu vết phanh nằm trong làn đường ô tô con thuộc phần đường bên trái theo hướng từ Phú Giáo đi ngã tư Hòa Lợi có chiều dài từ đầu vết phanh đến trục bánh sau bên trái xe ô tô khách biển số 47B-010.49 dài 49m60.
+ Đầu vết phanh vào lề chuẩn là 11m30, cách điểm cột mốc là 21m70.
+ Vết phanh trục bánh sau bên phải ôtô khách 47B-010.49 có: dầu vết phanh nằm trên làn đường ô tô con thuộc phần đường bên phải theo hướng từ Phú Giao đến ngã tư Hòa Lợi có chiều dài đến trục bánh sau bên phải ô tô khách 47B-010.49 là 47m, khoảnh cách từ đầu vết phanh số 2 đến đầu vết phanh số 1 là 2m40, đầu vết phanh số 2 vào lề chuẩn là 9m20.
+ Vết cày xe ô tô tải 61C-339.61 có đầu vết cày nằm trên làn đường ô tô con thuộc phần đường bên phải theo hướng từ Phú Giáo đến ngã tư Hòa Lợi có chiều dài đến trục bánh trước bên phải ôtô tải 61C-339.61 là 11m20, rộng 1m70, đầu vết cày vào lề chuẩn là 9m30, từ đầu vết cày đến đầu vết phanh thứ 2 là 4m90.
+ Xe ô tô tải 61C-339.61 sau khi xảy ra tai nạn nằm ngã nghiên bên phải trên phần đường bên trái theo hướng từ Phú giáo đến ngã tư Hòa Lợi có trục bánh trước bên phải vào lề chuẩn là 13m70, trục bánh sau bên phải vào lề chuẩn là 12m60.
+ Nạn nhân nằm úp trên làn đường ô tô con thuộc phần đường bên phải theo hướng đi Phú Giáo đến ngã tư Hòa Lợi có khoảng cách từ chân bên trái vào lề chuẩn là 9m60, khoảng cách từ chân bên trái vào đến trục bánh sau phải xe tải 61C-339.61 là 15m60.
+ Xe ô tô khách 47B-010.49 sau khi xảy ra tai nạn nằm trong lề phải đầu xe hướng về ngã tư Hòa Lợi, đuôi xe chếnh về hướng Phú Giáo có từ trục bánh sau trái ra lề chuẩn là 6m80, khoảng cách từ trục bánh sau trái đến chân trái nạn nhân là 19m40 từ trục bánh trước bên trái ra lề chuẩn là 9m70.
+ Nhà dân nằm trong lề phải theo hướng từ Phú Giao đến ngã tư Hòa Lợi.
Theo biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 61C-339.61 sau khi xảy ra va chạm với ô tô khách 47B-010.49 như sau:
+ Sây sát móp cảng trước thụng về sau dài 1m60 rộng 50cm, cách mặt đất 0m70 còn dính sơn màu xanh.
+ Cong móp khung xương máy trước thụng về sau còn dính sơn màu xanh.
+ Móm cabin trước thụng về sau, bể bung kính chắn gió trước, hư hỏng toàn bộ nội thất trong ca bin xe.
+ Bể bung hai đèn chiều sáng, hai đèn xi nhan trước.
+ Cong chân bánh trước bên trái về sau, bể vỏ trước bánh bên trái.
+ Xe ô tô tải va chạm với mặt đường
+ Sây sát cong cánh cửa trước bên phải, sây sát cong cánh thùng phải, biến dạng thùng hàng.
Xe ô tô khách biển số 47B-010.49 sau khi va chạm với xe ô tô tải biển số 61C-339.61 để lại dấu vết như sau:
+ Bể bung cảng trước thụng về sau còn dính sơn xanh.
+ Cong xương cảng trước về sau, móp thụng đầu xe về sau, bể kính chắn gió trước.
+ Bể bung hai đèn chiếu sáng trước, 02 đèn xi nhan trước.
+ Gãy rời hai kính chiếu hậu.
Xe ô tô khách 47B-010.49 va chạm với nhà dân:
+ Sây sát bể kính chắn gió bên hông phải.
+ Sây sát mân vỏ trước phải.
+ Sây sát bể kính chắn gió hông trái.
+ Hư hỏng bình nhiên liệu.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã trưng cầu định giá thiệt hại tài sản trong vụ tai nạn như sau:
Theo kết luận định giá tài sản ngày 26/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Bến Cát, kết luận:
+ 01 (một) căn nhà cấp 4 kích thước (5 x 75,5m) kết cầu tường gạch mái tôn, nền gạch tường ốp men, nhà xây dựng từ năm 2016 giá trị thiệt hại là 67.500.000 đồng
+ 01 cửa kéo kích thước (3 x 3) mua năm 2016 giá trị thiệt hại 2.700.000 đồng.
+ 01 mái nhà mát kích thước (21 x 6,5)m, kết cấu trụ sắt, mái tôn, xây dựng năm 2009 giá trị thiệt hại 12.000.000 đồng.
+ 02 khung rào lưới B40, viền sắt, kích thước (2,5 x 1,5)m xây dựng năm 2016 giá trị thiệt hại 1.500.000 đồng.
+ Một góc mái lá của chòi nước bị hư hỏng kích thước (3,5 x 2)m xây dựng năm 2016 giá trị thiệt hai 3.000.000 đồng.
Theo kết luận định giá tài sản ngày 26/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Bến Cát, kết luận:
+ 01 xe ô tô khách hiệu Thaco biển số 47B-010.49 giá trị thiệt hại 548.872.000 đồng.
+ 01 xe ô tô tải hiệu Kia biển số 61C-339.61 giá trị thiệt hại là 249.872.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại tài sản của nhà ông Võ Văn Lực cùng xe ô tô khách biển số 47B-010.49 và xe ô tô tải biển số 61C-339.61 là 885.158.000 đồng (tám trăm tám mươi lăm triệu, một trăm năm tám nghìn đồng).
Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 117/GĐPY ngày 09/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của Phạm Bắc N là do đa chấn thương, choáng đa thương, choáng mất máu không phục hồi được dẫn đến chết.
Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 114/GĐPY ngày 18/2/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của Lê Văn T là do choáng đa chấn thương (đập hai phổi, tim, ruột, gãy xương đùi chân trái, phải).
Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 114A/GĐPY ngày 18/2/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr là do choáng đa chấn thương, chấn thương ngực bụng (dập hai phổi, vỡ gan, vỡ lách, gãy đứt rời xương cẳng chân trái).
Theo Kết luận giám định số 3080/C09B ngày 12/6/2020 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ công an, kết luận: Trong trường hợp xe ô tô khách biển số 47B-010.49 để lại vết phanh dài 49,6m (vết phanh của bánh xe trục sau bên trái) trên mặt đường nhựa khô thì tốc độ của xe khi tham gia tai nạn giao thông là từ 93,9km/ giờ đến 100,3km/giờ.
Theo Kết luận giám định số 3079/C09B ngày 22/6/2020 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ công an, kết luận: Dấu vết trượt xước, gãy, cong biến dạng, bám chất màu xanh lá các chi tiết bên trái phía trước xe ô tô khách biển số 47B-010.49 (Cản trước, chắn đà, ốp đầu xe, kính chắn gió, cụm đèn chiếu sáng, kính chiếu hậu) có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái phù hợp với các dấu vết trượt xước, gãy, cong biến dạng, bám chất màu xanh dương các chi tiết phía trước bên phải trước xe ô tô tải biển số 61C-339.61 (Ca bi, cản trước, phía trước khung sườn bên phải, chắn đà, kính chắn gió, cum đèn chiếu sáng, bánh trước bên trái) có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái. Trên cơ sở cơ chế hình thành dấu vết qua hồ sơ tai nạn giao thông nêu trên xác định: Vị trí va chạm trên mặt đường giữa xe ô tô khách biển số 47B-010.49 và xe ô tô tải biển số 61C-339.61 nằm trước đầu vết cày số 3 và nằm trên phần đường bên phải đường DT741, hướng đi từ Cổng xanh Phú Giáo đi ngã tư Sở Sao.
Ngày 17/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng số 72 giao trả cho xe ô tô biển số 47B-010.49 cho ông Lê Văn C, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: Thôn 1B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là chủ sở hữu xe ô tô biển số 47B-010.49. Ông C đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.
Ngày 04/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng số 90 giao trả cho xe ô tô biển 61C-339.61 cho ông Kiều Hoàng K, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: ấp 5, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương là chủ sở hữu xe ô tô biển số 61C-339.61. Ông K đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì.
Về trách nhiệm dân sự:
- Ông Kiều Hoàng K chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 61C-339.61 đã bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Bắc N 5.000.000 đồng, gia đình bị hại Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr số tiền 5.000.000 đồng, gia đình bị hại Lê Văn T số tiền 10.000.000 đồng; gia đình bà Võ Thị L (bao gồm ông L, ông N và bà L) số tiền 80.000.000 đồng.
- Ông Nguyễn Văn C là chủ xe ô tô khách biển số 47B-010.49 đã bồi thường cho gia đình Phạm Bắc N và gia đình Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr, mỗi gia đình số tiền 20.000.000 đồng, bồi thường cho gia đình bị hại Lê Văn T số tiền 25.000.000 đồng, bồi thường cho gia đình bà Võ Thị L số tiền 80.000.000 đồng.
- Trần Thanh H bồi thường cho gia đình bà Võ Thị L số tiền 70.000.000 đồng.
- Đại diện gia đình bị hại Phạm Bắc N, Lê Văn T, Nguyễn Huỳnh Ngọc Tr và nguyên đơn dân sự có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Thanh H.
Cáo trạng số 48/CT-VKSBC ngày 22/3/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 3 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thanh H và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
- Về biện pháp tư pháp: Đã xử lý xong.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với: Kết luận định giá tài sản ngày 26/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Bến Cát; Kết luận giám định số 3080/C09B ngày 12/6/2020 và Kết luận số 3079/C09B ngày 22/6/2020 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công An; Kết luận giám định pháp y tử thi của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; không có ý kiến gì đối với nội dung bản Cáo trạng cũng như quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo H trình bày: Bị cáo xin lỗi tất cả gia đình bị hại; bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sự việc xảy ra quá bất ngờ nên bị cáo không xử lý kịp, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên toà, bị cáo Trần Thanh H khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã mô tả. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 06/02/2020, kèm theo sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông và các kết luận giám định pháp y tử thi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo có giấy phép lái xe nhưng không tuân thủ Luật giao thông đường bộ, điều khiển xe ô tô chạy vượt quá tốc độ cho phép, đi không đúng làn đường quy định, vi phạm khoản 11 Điều 8; khoản 1 Điều 9 và Điều 13 của Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Hành vi điều khiển xe mô tô vi phạm Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm chết 03 (ba) người của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 48/CT-VKSBC ngày 22/3/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát cũng như ý kiến luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác. Do đó cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bị hại cũng có một phần lỗi (điều khiển xe ôtô tải trong tình trạng có sử dụng rượu, bia nên không làm chủ tốc độ, chuyển hướng đột ngột, đánh lái sang phần đường ngược chiều); người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; trong vụ án, lỗi chính dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông giửa xe ô tô tải biển số 61C-339.61 và xe ô tô khách biển số 47B-010.49 gây chết 03 người là do Phạm Bắc N điều khiển xe ô tô tải không làm chủ tốc độ, đột ngột chuyển hướng sang phần đường ngược chiều; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng Điều 54 và 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Chấp nhận mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Bị đơn dân sự và bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại và nguyên đơn dân sự. Các bên không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Bến Cát đã ra Quyết định giao trả ô tô tải 61C-339.61 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Kiều Hoàng K; giao trả xe ô tô khách biển số 47B-010.49 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lê Văn C. Ông K và ông C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt chính: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 260 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo Trần Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 6 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong thời gian 01 (một) năm, tính kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bến Cát tạm giữ bản gốc Giấy phép lái xe số 660085007387 ngày 31/5/2015, do Công an tỉnh Đắk Lắk cấp cho Trần Thanh H trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt sổ sung.
4. Về biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Thanh H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - Ủy ban nhân dân xã Ea Yông, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Phƣơng |