vanban.org

Bản án 62/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c Điều 326 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Tuyên bố b cáo V H NG phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản . Về hình phạt: Căn c điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 ộ u t H nh sự, xử phạt b cáo V H NG 14 mười bốn) năm t , thời hạn t tính từ ngày 18/6/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo VŨ HOÀNG D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Căn c Điều 326 Bộ lu t Tố tụng hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/HS-ST
Ngày 20-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hồng Giang;

Thẩ ph n: Bà Tr n Th Nhài;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đ ng B c, bà Đ Phương Di p và ông Dương Văn Tuyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khánh T ng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Tr n Thanh Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2021/TLST-HS ngày 29/7/2021, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-HS ngày 16/8/2021, đối với b cáo:

V HOÀNG D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/10/1990, tại Thái B nh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và ch ở hi n nay: T 28, phường HL, qu n HM, thành phố Hà Nội; nghề nghi p: Nhân viên; tr nh độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông V Văn Tr và bà Hoàng Th T; có vợ à Dương nh Ng và 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

B cáo b tạm gi , tạm giam từ ngày 18/6/2020 cho đến nay, hi n đang b tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên, (có m t).

* Người bào ch a cho b cáo Lu t sư Nguy n Thanh T1, Văn ph ng Lu t sư PHH và cộng sự, thuộc Đoàn Lu t sư thành phố Hà Nội, (có m t).

* Bị hại: Công ty Trách nhi m h u hạn SS Vi t Nam Thái Nguyên; người đại di n theo pháp lu t của Công ty là ông LBK, sinh năm 1965, quốc t ch: Hàn Quốc, ch c vụ: T ng Giám đốc, (v ng m t).

* Người đại di n theo ủy quyền là ông Nguy n Tu n M, sinh năm 1985, ch c vụ: Phó Trưởng ph ng An ninh, (có m t).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông PSY, sinh năm 1965; quốc t ch: Hàn Quốc, tr tại số nhà 177, phố TK, phường YH, qu n CG, thành phố Hà Nội, (v ng m t).

2. Anh Đào á N, sinh năm 1990, tr tại thôn C, xã NH, huy n CM, thành phố Hà Nội, (v ng m t).

3. Anh han Tiến Th, sinh năm 1990, trú tại th n 4, ã LH, huy n PT, thành phố Hà Nội, (v ng m t .

4. Anh V Văn T2, sinh năm 1983, tr tại số 60, phố NĐC, phường TM, qu n HM, thành phố Hà Nội, v ng m t .

5. Ch ương nh Ng, sinh năm 1989, tr tại t 28, phường HL, qu n HM, thành phố Hà Nội, có m t .

* Người làm chứng:

1. Ch Đinh Th Th y D1, sinh năm 1990, tr tại xóm HD, xã CL, huy n LN, tỉnh B c Giang, (v ng m t).

2. Anh Cao Thanh T3, sinh năm 1998, tr tại t 4, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, (v ng m t).

3. Anh Nguy n Vi t A, sinh năm 1989, tr tại t 2, phường BH, th xã PY, tỉnh Thái Nguyên, (v ng m t).

4. Ch B i Cẩm V, sinh năm 1995, tr tại xóm N, xã AK, huy n ĐT, tỉnh Thái Nguyên, (v ng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Công ty Trách nhi m h u hạn SS Vi t Nam, Thái Nguyên (sau đây viết t t là Công ty SS) có trụ sở tại Khu Công nghi p YB, phường ĐT, th xã PY, tỉnh Thái Nguyên. Công ty có 02 khu vực làm vi c riêng bi t, tách rời nhau gồm: SS 1 có tòa nhà linh ki n 1, linh ki n 2; SS 2 có tòa nhà linh ki n 3, linh ki n 4.

V Hoàng ký hợp đồng làm công nhân tại Công ty SS từ tháng 11 năm 2014. Tháng 11 năm 2017, D chuyển đến làm vi c tại Bộ ph n kiểm tra ngoại quan kính Glass PQC-2P tại t ng 1, toà nhà linh ki n 4, SS 2, do ông PSY, sinh năm 1965, quốc t ch Hàn Quốc làm Giám đốc bộ ph n và anh Đào á N, sinh năm 1990, tr tại thôn C, xã NH, huy n CM, thành phố Hà Nội làm Trưởng bộ ph n. Theo hợp đồng lao động, công vi c của D do anh N phân công trực tiếp. Từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 7 năm 2018, D được anh N phân công làm T trưởng nhóm khách hàng, thuộc bộ ph n kiểm tra ngoại quan, có nhi m vụ h trợ Trưởng phòng quản lý công vi c của nhóm khách hàng, tiếp nh n các m t kính đi n thoại từ bộ ph n khác chuyển đến để kiểm tra, phân loại và t ng hợp báo cáo kết quả lên quản lý c p trên. Từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 6 năm 2020, D được anh N phân công làm Trưởng ca 1A, có nhi m vụ h trợ Trưởng phòng quản lý công vi c trong ca sản xu t. D được bố trí làm vi c tại văn phòng của bộ ph n và được Công ty c p 01 máy vi tính (laptop); 01 tài khoản (email) nội bộ đăng nh p vào h thống của Công ty để quản lý công vi c.

Theo quy đ nh của Công ty SS, vi c v n chuyển đưa các m t kính đi n thoại, c ng như các inh ki n khác từ bộ ph n kiểm tra ngoại quan kính ra ngoài tòa nhà linh ki n 4 và ra khỏi Công ty SS, được thực hi n thông qua vi c l p phiếu yêu c u, thường gọi là phiếu xu t hàng. Các phiếu xu t hàng phải được c p quản lý phê duy t là anh N phê duy t l n 1 và ông PSY phê duy t l n 2 mới có giá tr thực hi n. Để đảm bảo tiến độ sản xu t cho ca làm vi c tiếp theo, bộ ph n kiểm tra ngoại quan cho phép khi ca làm vi c đã hoàn thành kế hoạch trong ngày, được tự để ra một ượng m t kính nh t đ nh dự phòng cho ngày làm vi c tiếp theo. Số ượng m t kính dự ph ng này được để trên giá hàng trong ưởng sản xu t, kh ng được giao cho ai trực tiếp quản lý và không được theo dõi, quản lý trên h thống d li u của Công ty.

Lợi dụng sở hở trong vi c quản lý m t khẩu, tài khoản của bộ ph n kiểm tra ngoại quan kính, từ đ u năm 2018 D biết được cả 02 m t khẩu tài khoản của anh N, Trưởng bộ ph n và 02 m t khẩu tài khoản của anh Phan Tiến Th, sinh năm 1990, trú tại thôn 4, xã LH, huy n PT, thành phố Hà Nội, là nhân viên cùng làm tại bộ ph n kiểm tra ngoại quan kính. Từ đ u năm 2019, D biết được m t khẩu tài khoản của ông PSY, Giám đốc bộ ph n, đồng thời biết được số ượng m t kính luân chuyển qua bộ ph n kiểm tra ngoại quan kính r t lớn và liên tục theo dây chuyền sản xu t, nên không thể kiểm đếm được số ượng. Do c n tiền sử dụng cá nhân và biết rõ thủ tục chuyển hàng ra khỏi Công ty SS, từ tháng 4 năm 2018, D đã nảy sinh ý đ nh và thực hi n các hành vi gian dối chiếm đoạt các m t kính đi n thoại, bằng cách l p giả các phiếu xu t hàng nhằm đánh ừa Công ty SS, nhân viên bảo v làm nhi m vụ kiểm soát vi c xu t hàng tại v trí cửa từ và c ng từ của Công ty.

Để tránh b phát hi n, D chủ yếu thực hi n hành vi phạm tội vào ca đêm, từ 20 giờ đến 05 giờ ngày hôm sau, thời điểm anh N và ông PSY thường không có m t ở C ng ty, đồng thời D sử dụng trái phép tài khoản của người khác để đăng nh p vào h thống Công ty nhằm che d u hành vi phạm tội. Sau khi chọn thời điểm phạm tội, D chủ động xuống ưởng 2P chuẩn b các m t kính trong số kính dự phòng, kiểm đếm số ượng, chủng loại cho vào thùng carton, rồi quay về văn ph ng àm vi c, D sử dụng máy vi tính được giao, đăng nh p vào tài khoản được c p ho c tự ý đăng nh p vào tài khoản của anh Th để l p giả phiếu xu t hàng trên h thống, với nội dung giả mạo lý do vi c chuyển số m t kính đã chuẩn b sang bộ ph n kiểm tra ch t ượng, thuộc tòa linh ki n 1, SS 1, để kiểm tra mẫu l i, giả mạo họ tên, thông tin liên h của người nh n hàng, làm như có vi c chuyển m t kính th t. Tiếp theo, D tự ý dùng m t khẩu đã biết để đăng nh p, sử dụng trái ph p tài khoản của anh N và ông PSY, mạo danh anh N và ông P làm giả l nh phê duy t phiếu xu t hàng trên h thống quản lý Công ty. Sau đó, D in phiếu xu t hàng ra sử dụng để v n chuyển các m t kính ra khỏi tòa nhà linh ki n 4 và c ng C ng ty như đang chuyển hàng b nh thường. Nhân viên bảo v tại cửa từ, c ng từ khi kiểm tra trên h thống d li u th y phiếu u t hàng đã được phê duy t, sau khi trực tiếp kiểm đếm th y đ ng số ượng, chủng oại m t kính, th ng tin người được giao nhi m vụ v n chuyển hàng như trên phiếu u t hàng do D đưa cho, nên đã tin tưởng giao lại phiếu xu t hàng và số ượng m t kính đã niêm phong cho D đưa ra khỏi toà nhà linh ki n 4 và ra ngoài Công ty.

Sau khi đem được các m t kính ra ngoài Công ty, D đem bán y tiền chi tiêu sử dụng cá nhân. Kết quả điều tra ác đ nh trong thời gian từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 4 năm 2020, bằng thủ đoạn trên, D đã 64 n thực hi n hành vi chiếm đoạt các m t kính đi n thoại của Công ty SS, cụ thể như sau:

Trong năm 2018: Trong thời gian từ ngày 14/4/2018 đến ngày 26/12/2018, D đã p 07 phiếu xu t hàng giả, trong đó 04 phiếu sử dụng tài khoản của D và 03 phiếu sử dụng tài khoản của anh Th, chiếm đoạt của Công ty SS t ng cộng 1.531 m t kính màn h nh đi n thoại chưa dán viền các loại. Trong thời gian này, D biết được m t khẩu tài khoản của anh N để đăng nh p làm giả l nh phê duy t l n 1, sau đó sử dụng 07 phiếu xu t hàng giả này chuyển các m t kính ra khỏi tòa linh ki n 4, khu vực SS 2. Để đưa được các m t kính ra ngoài Công ty, D lên xe ô tô buýt nội bộ của Công ty chạy cố đ nh gi a 2 khu vực để sang khu vực SS 1, làm giả như đang chuyển các m t kính sang Bộ ph n kiểm tra ch t ượng. Khi đến nơi, D không chuyển các m t kính vào Bộ ph n kiểm tra ch t ượng mà gi u vào ba lô cá nhân, lợi dụng sơ hở của nhân viên bảo v khi kiểm tra tại c ng từ để đem các m t kính ra ngoài C ng ty chiếm đoạt.

Trong năm 2019: Từ ngày 05/01/2019 đến ngày 16/11/2019, D đã p 41 phiếu xu t hàng giả, chiếm đoạt của Công ty SS 24.919 m t kính màn h nh đi n thoại chưa dán viền các loại, cụ thể: Từ đ u năm 2019, ợi dụng sơ hở của ông PSY, D biết được m t khẩu th nh t tài khoản của ông P. Sau khi đăng nh p trái phép tài khoản của anh N để làm giả l nh phê duy t l n 1, D đã sử dụng m t khẩu này để truy c p trái ph p tài khoản của ng P, làm giả l nh phê duy t n 2 đối với 32 phiếu u t hàng giả, đưa các m t kính qua c ng từ khu vực SS 2 ra ngoài Công ty chiếm đoạt. C n đối với 09 phiếu xu t hàng giả, do tại một số thời điểm ng P đ i sang sử dụng m t khẩu th 2, D kh ng biết m t khẩu này nên chỉ truy c p vào tài khoản của anh N để làm giả l nh phê duy t l n 1. Đối với số m t kính trong 09 phiếu xu t hàng này, D vẫn phải gi u m t kính vào ba để đem qua c ng C ng ty ra ngoài chiếm đoạt như trong năm 2018.

Từ năm 2019, để tránh sự để ý của người khác, lợi dụng nhi m vụ được giao là Trưởng ca 1A, D kh ng trực tiếp kiểm đếm số m t kính đ nh chiếm đoạt mà giao cho ch Đinh Th Thùy D1, sinh năm 1990, trú tại xã CL, huy n LN, tỉnh B c Giang, là nhân viên trong ca sản xu t c ng nhân viên bảo v kiểm đếm ác đ nh số ượng, chủng oại m t kính để niêm phong ại tại kho Công ty ho c tại cửa từ tòa nhà linh ki n 4, còn vi c v n chuyển các m t kính này từ kho C ng ty và ưởng 2P lên văn phòng của Bộ ph n, được D giao cho anh Cao Thanh T3, sinh năm 1998, tr tại t 4, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, à nhân viên v n chuyển hàng thuộc ca sản xu t thực hi n. Sau khi bảo v Công ty kiểm tra xong, D mới trực tiếp đem các m t kính qua cửa từ và c ng từ Công ty để chiếm đoạt.

Năm 2020, D biết được m t khẩu th 2 của ng P, trong thời gian từ ngày 13/02/2020 đến ngày 29/4/2020, D sử dụng trái phép tài khoản của anh N và ông P làm giả l nh phê duy t đối với 16 phiếu u t hàng giả, chiếm đoạt của C ng ty SS 17.880 m t kính màn h nh đi n thoại các loại, trong đó có 2.070 chiếc m t kính trước đi n thoại Galaxy Note 9 à kính đã dán viền.

T ng cộng, trong 03 năm, từ tháng 4 năm 2018 đến 4 năm 2020, D đã p 64 phiếu xu t hàng giả, gồm 26 phiếu được l p bằng tài khoản của D và 38 phiếu được l p bằng tài khoản của anh Th, trong đó, 16 phiếu được làm giả l nh phê duy t của anh N và 48 phiếu được làm giả l nh phê duy t của anh N và ông P, chiếm đoạt của Công ty SS t ng cộng 44.330 chiếc m t kính màn h nh đi n thoại đang trên dây chuyền sản xu t. Trong số 44.330 chiếc m t kính nêu trên, có 42.260 chiếc kính tr ng, chưa in viền, bao gồm: 10.120 kính đi n thoại Ga a y Note 10; 7.701 kính đi n thoại Ga a y Note 8; 7.636 kính đi n thoại Ga a y S10 5G; 7.353 kính đi n thoại Ga a y S10 us; 2.000 kính đi n thoại Ga a y S20; 6.350 kính đi n thoại Galaxy S20 us; 200 kính đi n thoại Ga a y S9; 900 kính đi n thoại Galaxy Note 9 và 2.070 kính đã in viền của đi n thoại Galaxy Note 9.

Tháng 6 năm 2020, khi bộ ph n n ninh C ng ty SS kiểm tra, rà soát d li u chuyển hàng của các phiếu xu t hàng trên h thống, đã phát hi n 04 phiếu xu t hàng do D p, gồm 02 phiếu l p ngày 15/3/2020; 02 phiếu l p ngày 28 và ngày 29/4/2020, có d i u chuyển hàng ra, nhưng kh ng có d i u nh p hàng vào ộ ph n kiểm tra ch t ượng như ộ tr nh ghi trên phiếu u t hàng, nên đã yêu c u D giải tr nh. Để che gi u hành vi phạm tội, D đã điền thêm vào 04 phiếu u t hàng này nội dung: Nhân viên quên không Scan tại điểm check in cuối cùng, rồi truy c p sử dụng trái ph p tài khoản của anh N và ông P để ác nh n nội dung chỉnh sửa, nhằm đánh ừa ộ ph n An ninh với ý do, vi c kh ng có d i u m t kính chuyển vào ộ ph n kiểm tra ch t ượng, à do nhân viên bảo v tại cửa từ tòa nhà linh ki n 1 quên không xác nh n d li u nh p hàng khi D chuyển các m t kính vào. Tuy nhiên, sau đó C ng ty SS tiếp tục phát hi n thêm nhiều phiếu u t hàng có d u hi u b D p giả. Ngày 17/6/2020, Công ty đã có đơn tr nh báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên điều tra àm r . Ngày 18/6/2020, D đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên đ u th . Tại Cơ quan điều tra, D khai nh n hành vi chiếm đoạt tài sản của C ng ty SS tại 64 phiếu u t hàng nêu trên. Toàn bộ số m t kính chưa in viền các loại đã chiếm đoạt, được D l y từ số m t kính dự phòng tại ưởng 2 . Đối với 2.070 m t kính đã in, dán viền đi n thoại Galaxy Note là do ca làm vi c 1A tiếp nh n từ anh Nguy n Văn N1, sinh năm 1993, trú tại xã MT, huy n ĐH, tỉnh Thái Bình là nhân viên hành chính của kho m t kính, kho MM, bộ ph n Glass 2G của Công ty, để kiểm tra lại theo quy tr nh. Tuy nhiên, sau đó D nói dối anh N1 là số m t kính này b l i không sử dụng được và không bàn giao lại kho m t kính để hủy theo quy đ nh, D đem ra ngoài C ng ty để chiếm đoạt.

Về số m t kính đã chiếm đoạt, D khai, sau khi l y được các m t kính, D trực tiếp đem về Hà Nội bán l y tiền. Trong năm 2018, D bán cho một người không quen biết trên mạng internet, từ đ u năm 2019 D bán cho anh V Văn T2, sinh năm 1983, trú tại phường TM, qu n HM, Hà Nội với giá 15.000 đồng/chiếc. T ng số tiền D thu lợi b t chính là 44.330 chiếc 15.000 đồng/chiếc = 694.950.000 đồng, số tiền này D đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Tại Kết lu n đ nh giá tài sản số 1104/STC-QLGDN, ngày 30/3/2021 của Hội đồng đ nh giá tỉnh Thái Nguyên, kết lu n: 44.330 chiếc m t kính màn h nh đi n thoại tại thời điểm b D chiếm đoạt có giá tr à 8.618.836.500 đồng.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKS-P1, ngày 28/7/2021 của Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố b cáo V H NG về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 174 ộ u t H nh sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, b cáo đã khai nh n hành vi phạm tội của m nh đ ng như nội dung cáo trạng của Vi n kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên sơ thẩm, đại di n Vi n Kiểm sát gi nguyên quyết đ nh truy tố, đề ngh Hội đồng xét xử tuyên bố b cáo V H NG phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản .

* Về hình phạt: Căn c điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 ộ u t H nh sự, xử phạt b cáo từ 14 năm t đến năm 16 năm t .

* Về h nh phạt b sung: Căn c khoản 5 Điều 174 Bộ lu t H nh sự, đề ngh Hội đồng x t xử phạt b cáo từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng sung qu nhà nước.

* Về trách nhi m dân sự: Đại di n b hại yêu c u b cáo bồi thường 100.000.000 đồng, số tiền c n lại không yêu c u b cáo phải bồi thường tiếp. Áp dụng Điều 48 Bộ lu t Hình sự; các Điều 584; 585; 586 và Điều 589 Bộ lu t Dân sự. uộc b cáo phải bồi thường cho b hại 100.000.000 đồng.

* Về v t ch ng: Áp dụng Điều 47 Bộ lu t Hình sự và Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Đề ngh xử lý v t ch ng theo quy đ nh của pháp lu t.

Đối với số tiền 694.950.000 đồng do b cáo thu lợi b t chính, theo b cáo khai đã bán 44.330 chiếc m t kính màn h nh đi n mà có, tại phiên t a sơ thẩm đại di n b hại không yêu c u b cáo bồi thường và không yêu c u truy thu sung qu nhà nước. Đề ngh Hội đồng x t xử không truy thu số tiền nêu trên.

* Về án phí: Căn c khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ lu t Tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về m c thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. B cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp lu t.

Trong ph n tranh lu n, b cáo không tranh lu n với lu n tội của Vi n kiểm sát.

Tại phiên t a sơ thẩm, đại di n b hại theo ủy quyền là anh Nguy n Tu n M, đề ngh Hội đồng xét xử xem x t giảm nh m c h nh phạt t cho b cáo. Về bồi thường dân sự yêu c u b cáo bồi thường 100.000.000 đồng, số tiền này b cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, số tiền c n lại đại di n b hại không yêu c u b cáo phải bồi thường tiếp.

Lu t sư bào ch a cho b cáo ác đ nh Vi n kiểm sát truy tố b cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy đ nh tại điểm a khoản 4 Điều 174 à đ ng. Lu t sư đề ngh Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của b cáo, một ph n do Công ty quản lý tài sản quá lỏng l o, số m t kính màn h nh đi n thoại b m t Cơ quan điều tra không ch ng minh được và b hại không kiểm soát được số ượng m t kính màn h nh đi n thoại b m t. X t th y, sau khi phạm tội b cáo đã đến Cơ quan Công an đ u th , quá tr nh điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm b cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, b cáo đã bồi thường kh c phục h u quả cho b hại và đại di n b hại xin giảm nh m c h nh phạt t và không yêu c u b cáo phải bồi thường tiếp ph n dân sự. Đề ngh Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho b cáo được hưởng các t nh tiết giảm nh trách nhi m h nh sự theo quy đ nh tại điểm b, r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t H nh sự và xử phạt b cáo m c án 12 năm t .

Đại di n Vi n kiểm sát gi nguyên quan điểm.

Tại phiên t a sơ thẩm, b cáo nh t trí với nội dung bào ch a của Lu t sư, kh ng tranh u n với đại di n Vi n kiểm sát.

B cáo nói lời sau cùng: Đề ngh Hội đồng xét xử em t cho b cáo được hưởng m c h nh phạt t nh nh t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n đ nh như sau:

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên và người bào ch a đã thực hi n đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, b cáo, Lu t sư và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. o đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n hợp pháp và đ ng quy đ nh của pháp lu t.

Lời khai của b cáo tại phiên t a sơ thẩm, phù hợp với lời khai của b cáo tại Cơ quan điều tra, Kết lu n giám đ nh, lời khai b hại, người làm ch ng và các tài li u, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ có sở kết lu n: B cáo là nhân viên bộ ph n kiểm tra ngoại quan kính, làm vi c tại t ng 1, t a nhà linh ki n 4, thuộc Công ty TNHH SS Vi t Nam, Thái Nguyên. Lợi dụng sơ hở trong vi c quản lý các m t kính đi n thoại, trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 4 năm 2020, b cáo đã thực hi n hành vi l p 64 phiếu xu t hàng giả đưa lên h thống d li u của Công ty, sau đó sử dụng m t khẩu biết trước để đăng nh p trái phép vào tài khoản (email) của anh Đào á N là Trưởng Bộ ph n và ông PSY à Giám đốc Bộ ph n kiểm tra ngoại quan kính, mạo danh anh N và ông P làm giả l nh phê duy t 64 phiếu xu t hàng trên h thống, để xu t 44.330 chiếc m t kính màn h nh đi n thoại các loại, có tr giá 8.618.836.500 đồng mang ra khỏi toà nhà linh ki n 4 của Công ty SS. Nhân viên bảo v Công ty thực hi n vi c kiểm soát hàng hoá tin tưởng đó à các phiếu xu t hàng th t, đã àm thủ tục giao số m t kính trên cho b cáo mang ra ngoài, b cáo đã bán l y tiền chi tiêu cá nhân.

Với hành vi nêu trên, cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố b cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 174 ộ u t H nh sự, điều lu t có nội dung:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiế đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 nă hoặc phạt tù từ 06 th ng đến 03 nă .

...4. Phạm tội thuộc một trong c c trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 nă đến 20 nă hoặc tù chung thân:

a) Chiế đoạt tài sản có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên.

Xét hành vi phạm tội của b cáo là đ c bi t nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở h u về tài sản của b hại, gây ảnh hưởng x u đến an ninh tr t tự tại đ a phương và môi trường đ u tư của nước ngoài tại Vi t Nam. Xét th y, c n phải xử lý nghiêm bằng pháp lu t hình sự, để răn đe và ph ng ngừa chung.

X t nhân thân và các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhi m hình sự của b cáo, Hội đồng xét xử xét th y: B cáo à người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, l n đ u phạm tội, trong quá tr nh điều tra và tại phiên t a sơ thẩm, b cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của m nh, có thái độ ăn năn, hối cải, b cáo đã bồi thường một khoản tiền cho b hại. Do v y, b cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự được quy đ nh tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, đó là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải”. Sau khi thực hi n hành vi phạm tội, b cáo đã đến Cơ quan C ng an đ u thú; b cáo có bố đ được nhà nước t ng thưởng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến; đại di n b hại xin giảm nh m c h nh phạt t cho b cáo. Do v y, b cáo được hưởng thêm 03 tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự được quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự. B cáo phải ch u 01 tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự theo quy đ nh tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ lu t H nh sự, đó là “Phạ tội l n trở l n .

Sau khi xem x t các t nh tiết tăng n ng, giảm nh trách nhi m h nh sự và nhân thân của b cáo, Hội đồng x t xử x t th y: Trong vụ án này, vi c quản lý tài sản của b hại quá lỏng l o, chưa có khoa học, nên đã ph n nào tạo điều ki n thu n lợi cho b cáo thực hi n hành vi phạm tội trong một thời gian dài mới b phát hi n. Tại phiên t a sơ thẩm, chính đại di n b hại c ng thừa nh n điều này, sau khi b phát giác hành vi phạm tội của b cáo, Công ty đã ch n chỉnh k p thời để b p nh ng l h ng trong vi c quản lý tài sản chưa khoa học. X t th y, b cáo là người có nhân thân tốt, nh t thời phạm tội, sau khi thực hi n hành vi phạm tội b cáo đã đ u th và tỏ r sự ăn năn hối cải, b cáo đã tự nguy n bồi thường một ph n thi t hại cho b hại và được đại di n b hại xin giảm nh m c h nh phạt t cho b cáo, gia đ nh b cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, con c n nhỏ, vợ không có công vi c và thu nh p n đ nh đã được chính quyền đ a phương xác nh n. Tại phiên t a sơ thẩm, đại di n b hại chỉ yêu c u b cáo bồi thường 100.000.000 đồng bằng số tiền b cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra để kh c phục h u quả và đề ngh Hội đồng x t xử tiếp tục giảm nh m c h nh phạt t th p nh t cho b cáo. Để thể hi n chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người l n đ u phạm tội, ăn năn hối cải, khi quyết đ nh h nh phạt, Hội đồng x t xử xem x t giảm nh một ph n m c h nh phạt t cho b cáo.

Đề ngh của đại di n Vi n kiểm sát tại phiên t a à có căn c ch p nh n.

Đề ngh của Lu t sư bào ch a cho b cáo, Hội đồng xét xử xem xét theo quy đ nh của pháp lu t.

Về trách nhi m dân sự:

Tại phiên t a sơ thẩm, đại di n b hại theo ủy quyền yêu c u b cáo bồi thường 100.000.000 đồng, số tiền này b cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra, số tiền c n lại đại di n b hại không yêu c u b cáo phải bồi thường tiếp. Hội đồng t ử t th y, sự thỏa thu n nêu trên gi a b cáo và đại di n b hại kh ng trái đạo đ c ã hội, kh ng trái pháp u t, c n ghi nh n sự thỏa thu n nêu trên.

Trong quá tr nh điều tra, b cáo đã nộp 100.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên để bồi thường cho b hại, c n tạm gi số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

Về v t ch ng vụ án:

Đối với 01 đi n thoại di động nhãn hi u SS Galaxy Note10+ màu tr ng, có số imei: 351591/11/610503/5, t nh trạng c đã qua sử dụng. Quá tr nh điều tra và tranh tụng tại phiên t a, xác đ nh chiếc đi n thoại này của b cáo kh ng iên quan đến vụ c n trả ại cho b cáo, nhưng tạm gi lại để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 quyển s tay cá nhân màu xanh, kích thước (20x15)cm có ghi ch “Memories , tờ bên trong đ u tiên có ghi ch V H NG và số đi n thoại 0961.630.036, t ng cộng có 92 tờ. Quá tr nh điều tra và tranh tụng tại phiên t a, xác đ nh quyển s trên không liên quan đến vụ án và không c n giá tr sử dụng, c n t ch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 694.950.000 đồng do b cáo thu lợi b t chính từ vi c bán 44.330 chiếc m t kính màn h nh đi n mà có, tại phiên t a sơ thẩm đại di n b hại không yêu c u b cáo bồi thường và không yêu c u truy thu sung qu nhà nước. Do v y, Hội đồng x t xử không truy thu số tiền nêu trên để sung qu nhà nước.

Về h nh phạt b sung: X t th y mục đích phạm tội của b cáo nhằm chiếm đoạt tài sản, v v y c n phạt b sung b cáo một khoản tiền sung qu nhà nước theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 174 Bộ lu t H nh sự.

Trong vụ án này, có ông PSY, anh Đào á N và anh Phan Tiến Th, à người được Công ty SS c p tài khoản để đăng nh p h thống quản lý d li u của Công ty, ông P và anh N có thẩm quyền quyết đ nh, phê duy t các phiếu xu t hàng. Trong quá trình quản lý m t khẩu, ông P, anh N và anh Th đã sơ hở để b cáo biết được m t khẩu tài khoản. Quá trình điều tra ác đ nh nh ng người này không cố ý làm lộ m t khẩu, không biết hành vi phạm tội của b cáo. Do v y, Cơ quan điều tra không xem x t, xử lý là có căn c .

Đối với ch Đinh Th Thùy D1 và anh Cao Thanh T3, người tham gia kiểm đếm và v n chuyển các m t kính do b cáo đã chiếm đoạt. Quá tr nh điều tra ác đ nh nh ng người này không biết hành vi phạm tội và mục đích chiếm đoạt tài sản của b cáo, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có căn c .

Đối với anh Nguy n Văn N1, à nhân viên bộ ph n kho m t kính của C ng ty, theo b cáo tr nh bày à người chuyển cho b cáo 2.070 chiếc m t kính đã in viền để kiểm tra lại theo quy tr nh, nhưng sau đó b cáo đã chiếm đoạt mà không chuyển trả lại cho bộ ph n kho m t kính. Quá tr nh điều tra ác đ nh anh N1 không iên quan đến hành vi phạm tội của b cáo, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý à có căn c .

Đối với anh V Văn T2, theo lời khai của b cáo, à người đã mua toàn bộ các m t kính do b cáo chiếm đoạt của Công ty SS. Quá tr nh điều tra, không có căn c ch ng minh anh T2 đã mua các m t kính đi n thoại của b cáo. Do v y, Cơ quan điều tra kh ng đủ cơ sở xem xét, xử ý đối với anh Toàn là có căn c .

Trong quá tr nh điều tra, Công ty SS còn trình báo có 09 phiếu xu t hàng có d u hi u do b cáo l p giả để chiếm đoạt tài sản của Công ty. Quá tr nh điều tra không có căn c kết lu n b cáo l p 09 phiếu xu t hàng giả để chiếm đoạt tài sản. Do v y, Cơ quan điều tra không có căn c xử lý là đ ng quy đ nh.

Về án phí: B cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp u t.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c Điều 326 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố b cáo V H NG phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản .

2. Về hình phạt: Căn c điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 ộ u t H nh sự, xử phạt b cáo V H NG 14 mười bốn) năm t , thời hạn t tính từ ngày 18/6/2020.

Căn c khoản 4 Điều 329 ộ u t Tố tụng h nh sự, tiếp tục tạm giam b cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về h nh phạt b sung: Căn c khoản 5 Điều 174 Bộ lu t H nh sự, phạt b cáo V H NG 20.000.000 đồng (hai mươi tri u đồng) sung công qu nhà nước.

4. Về trách nhi m dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ lu t Hình sự; các Điều 584; 585; 586 và Điều 589 Bộ lu t Dân sự.

- Ghi nh n sự thỏa thu n gi a b cáo V H NG với đại di n theo ủy quyền của b hại. B cáo V H NG có trách nhi m bồi thường cho Công ty Trách nhi m h u hạn SS Vi t Nam, Thái Nguyên 100.000.000 đồng, (một trăm tri u đồng).

- Tạm gi số tiền 100.000.000 đồng một trăm tri u đồng , do b cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án cho b cáo.

5. Về v t ch ng: Căn c Điều 47 Bộ lu t Hình sự và Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

- Tạm gi 01 đi n thoại di động nhãn hi u SS Galaxy Note10+ màu tr ng, có số imei: 351591/11/610503/5, t nh trạng c đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.

- T ch thu tiêu hủy 01 quyển s tay cá nhân màu xanh, kích thước (20x15)cm, có ghi ch “Memories , tờ bên trong đ u tiên có ghi ch V H NG và số đi n thoại 0961.630.036, bên trong có 92 tờ có ch viết tay, tại tờ số 92 có ghi d ng ch “!kch121515 .

Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên ngày 26/7/2021; số tiền 1 . . đồng theo Gi ủ nhiệ chi số 235 ng 27/7/2021.

6. Về án phí: Căn c khoản 2 Điều 136 ộ u t Tố tụng h nh sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy đ nh về m c thu, mi n, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Buộc b cáo V H NG phải ch u 200.000 đồng hai trăm ngh n đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện yêu c u thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi h nh n theo qu định tại c c điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi h nh n được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật thi hành án.

7. Về quyền kháng cáo: Căn c các Điều 331, Điều 333 và Điều 337 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Án xử c ng khai sơ thẩm có m t b cáo, đại di n b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. V ng m t người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (PSY, Đào á N, han Tiến Th và V Văn T2) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nh n được bản án ho c bản án được niêm yết hợp l ./.

Cỡ chữ