vanban.org

Bản án 62/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Phạm Trọng T 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trọng T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/HS-ST
Ngày: 14- 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Bình;

Bà Trần Thị Hải Anh;

- Thư ký phiên toà : Ông Ngô Lê Huân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2021/TLST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HS, ngày 0 1tháng 12 năm 2021 đối với:

Bị cáo Phạm Trọng T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Phạm Văn T; sinh năm: 1964; nơi sinh, nơi cư trú: Xóm 17, xã ĐS, huyện NT, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; họ và tên cha: Phạm Văn Đ, sinh năm 1932 (đã chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1933(đã chết); gia đình có 03 anh em, Bị cáo là con thứ ba; họ tên vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1970, hiện đang sinh sống và lao động tự do tại Hà Nội; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2001;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Ngày 24/12/1993, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Hà xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân”.

+ Ngày 29/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Ngày 30/01/2019, bị Công an huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức: Phạt tiền 1.500.000 đồng;

- Bị bắt, tạm giữ từ ngày 08/10/2021, đến ngày 12/10/2021 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nam Trực; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 10 năm 2021, tại khu vực đường làng thuộc thôn Hải Thượng, xã Nam Thái, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, tổ công tác Công an huyện Nam Trực phát hiện bắt quả tang Phạm Trọng T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Thu giữ trong túi quần trước bên trái của T 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong ký hiêu M.

Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của bị cáo, Phạm Trọng T đã khai: Khoảng 7 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 10 năm 2021, T đi bộ từ nhà đến khu vực đường làng thuộc thôn Hải Lạng, xã Nghĩa Thịnh, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được Heroine, Phạm Trọng T đi bộ về đến khu vực thôn Hải Thượng, xã Nam Thái, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định thì tổ công tác Công an huyện Nam Trực bắt giữ.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Trọng T, Công an huyện Nam Trực không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 1327/GĐKTHS ngày 11/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự kết luận: Mẫu dạng bột cục màu trắng trong 01 gói nhỏ giấy màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroin. Tổng khối lượng mẫu M: 0,149 gam.

Cáo trạng số 62/CT-VKS, ngày 10/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực đã truy tố bị cáo Phạm Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Phạm Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bản thân như đã nêu trên.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội, giữ nguyên quan điểm đã truy tố Bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Phạm Trọng T từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc Phạm Trọng T phải nộp án phí hình sự.

Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của Phạm Trọng T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số Heroin thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Trên cơ sở những chứng cứ này, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 10 năm 2021, tại khu vực đường làng thuộc thôn Hải Thượng, xã Nam Thái, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, Phạm Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép 0,149 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của Phạm Trọng T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ và sự lệ thuộc vào ma túy của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức, bản thân đã biết về tác hại của ma túy, sự lên án của toàn xã hội đối với tệ nạn ma túy, song không chịu rèn luyện bản thân, từ bỏ ma túy mà vẫn phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Phạm Trọng T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 01 lần bị kết án về tội“Cướp tài sản của công dân”, 01 lần bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Phạm Trọng T, thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, mới có tác dụng trừng trị, giáo dục Bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm chung. Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, nên không phạt tiền bổ sung.

Về xử lý vật chứng thu giữ: Số Heroin sau khi giám định còn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Phạm Trọng T, chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, nhưng không đủ cơ sở kết luận nên đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phạm Trọng T 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a và c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy số Heroin trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1327/GĐKTHS, ngày 11/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết vật chứng: Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/11/2021 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Phạm Trọng T phải nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Trọng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Bình

Trần Thị Hải Anh

Trần Văn Thi

Cỡ chữ