vanban.org

Bản án 62/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tr 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đoàn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Tân K, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Tr - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tr 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/HS-ST
Ngày: 31-3-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Nga.

2. Bà Nguyễn Thị Vạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Vân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2021/TLST-HS ngày 22/02/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2021/QĐXXST-HS ngày 09/3/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Văn Tr (tên gọi khác: Không); sinh năm 2002; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Định C, xã Phú M, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: B12/1N ấp 2, xã Tân K, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; họ tên cha: Đoàn Văn D; họ tên mẹ: Trần Thị H1; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1999 (đã chết ngày 27/3/2020).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh M, sinh năm 1971 (là cha ruột của bị hại) và bà Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1974 (là mẹ ruột của bị hại).

Nơi cư trú: Thôn Hồng Ch, xã Hòa Th, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện theo ủy quyền của ông M và bà H1: Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1991 – Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Trƣơng Văn Qu, sinh năm 1972 – Vắng mặt.

Địa chỉ: 25/86 An Dương V, Phường R, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Trƣơng Văn S, sinh năm 1966 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp R, thị trấn Tân H3, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

3/ Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1957 – Xin vắng mặt.

Thường trú: Thôn Định C, xã Phú M, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/3/2020, Đoàn Văn Tr (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô biển số 75H1-076.03 lưu thông trên đường Trần Đại Nghĩa hướng từ đường Quốc lộ 01 đi đường Võ Trần Ch1. Khi lưu thông đến trước địa chỉ B6/7D ấp 2, xã Tân K, huyện Bình Chánh, Tr chuyển hướng rẽ trái qua đường thì xảy ra va chạm với xe môtô biển số 86B2-542.48 do ông Huỳnh Ngọc H điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại. Lúc này, ông Trương Văn Qu điều khiển xe môtô biển số 63M1-7788 lưu thông cùng chiều phía sau xe môtô biển số 86B2-542.48 bị hoảng loạn nên đánh lái lên lề đường và đạp phanh gấp dẫn đến tự té ngã. Tai nạn xảy ra làm cả ba người ngã xuống đường bị thương, ông H được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ R và tử vong sau đó. Nhận được tin báo, Đội Cảnh sát giao thông – Trật tự Công an huyện Bình Chánh tiến hành khám nghiệm hiện trường và lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra thụ lý (bút lục số 107).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y về tử thi số 331/TT.20 ngày 14/4/2020 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định nguyên nhân chết của ông Huỳnh Ngọc H do chấn thương sọ não (bút lục số 149-155).

Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số 396/TgT.20 ngày 25/5/2020 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với Đoàn Văn Tr:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương vùng trán mắt phải gây rách da và sưng bầm mô mềm đã được điều trị, hiện còn một sẹo kích thước 6,2x0,1cm kèm diện bầm nhẹ mắt phải (ảnh 1).

Chấn thương trên do vật tày tác động gây ra hoặc do phần cơ thể tác động vào vật tày gây ra.

- Chấn thương gây gãy lún đầu dưới xương quay, gãy mỏm mâm trụ và trật khớp quay trụ đầu dưới bên phải (ảnh 2) đã được điều trị mổ kết hợp xương, hiện còn:

+ Một sẹo mổ tại mặt trước cổ tay kích thước 5x0,15cm (ảnh 3).

+ Tổn thương thần kinh giữa trên điện cơ đồ.

+ Hình ảnh kết hợp xương trên phim Xquang (ảnh 4).

+ Hạn chế vận động cổ tay, ngón 2 và 3, ngón 1 không gấp, đối được, giảm cảm giác nông phần ngoài gan bàn tay (ảnh 5, 6, 7).

Chấn thương trên do vật tày tác động theo dọc trục cẳng tay hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày theo trục cẳng tay gây ra.

- Chấn thương gây gãy kín 1/3 giữa xương đùi phải (ảnh 8) đã được điều trị mổ kết hợp xương, hiện còn:

+ Tám sẹo mổ tại mặt trước ngoài đùi kích thước:

* 0,7x0,1cm (ảnh 9.1).

* 16x0,1cm (ảnh 9.2).

* 0,8x0,1cm (ảnh 9.3; 9.4) mỗi sẹo.

* 7x0,1cm (ảnh 10.1).

* 1x0,1cm (ảnh 10.2; 10.3) mỗi sẹo.

* 1,2x0,1cm (ảnh 11).

+ Hình ảnh kết hợp xương trên phim Xquang (ảnh 12).

Chấn thương trên do vật tày tác động gây ra hoặc do phần cơ thể tác động vào vật tày gây ra.

- Chấn thương phần mềm tại mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải gây rách đứt da, dập cơ chày trước đã được điều trị, hiện còn một sẹo còn mày kích thước 10x(0,3-1,2)cm (ảnh 13), tình trạng ổn định.

Chấn thương trên do vật tày tác động gây ra hoặc do phần cơ thể tác động vào vật tày gây ra.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 55%.

3. Kết luận khác:Không đủ cơ sở xác định nguyên nhân xảy ra các chấn thương trên.” (bút lục số 143-148)

Căn cứ Kết luận giám định số 2194/C09B ngày 29/5/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

“- Dấu vết phía trước xe môtô biển số 75H1-076.03 (gãy gương chiếu hậu trái và phải; bể vỡ hoàn toàn ốp nhựa đầu xe và ốp mặt nạ; bể vỡ ốp nhựa bao quanh đèn chiếu sáng; trượt xước, nứt vỡ yếm chắn gió trái; gãy cung trước và sau chắn bùn bánh trước; biến dạng vành bánh trước; trượt xước, biến dạng phuộc giảm xóc trước) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh, phù hợp với dấu vết phía trước và bên trái xe môtô biển số 86B2-542.48 (bể vỡ ốp nhựa đầu xe; trượt xước, nứt vỡ cung trước chắn bùn bánh trước; trượt xước, nứt vỡ cung chắn gió và ốp nhựa bên trái thân xe; trượt xước khuyết kim loại bên trái ốp lốc máy; biến dạng gác chân trước bên trái và cần số trước;biến dạng khung kim loại két nước) có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết trượt xước các chi tiết bên phải xe môtô biển số 86B2-542.48 (chân phanh, ốp pô xe) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.

- Dấu vết trượt xước các chi tiết bên phải xe môtô biển số 63M1-7788 (đầu tay lái, đầu chân phanh, đầu gác chân trước) có chiều từ trước về sau, phù hợp va chạm với mặt đường.

- Trên cơ sở cơ chế hình thành dấu vết và hồ sơ vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên, xác định:

+ Phía trước xe môtô biển số 75H1-076.03 và phía trước xe môtô biển số 86B2-542.48 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện, vị trí này chiếu xuống mặt đường nằm trên phần bên phải đường Trần Đại Nghĩa theo hướng từ đường Võ Trần Chí đi Quốc lộ 1.

+ Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe môtô biển số 75H1-076.03 và xe môtô biển số 86B2-542.48 với xe môtô biển số 63M1-7788.

+ Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe môtô biển số 75H1-076.03 và xe môtô biển số 86B2-542.48 với vật cản hay phương tiện khác.

Tại thời điểm va chạm, xe môtô biển số 86B2-542.48 hướng chuyển động trên đường Trần Đại Nghĩa hướng từ đường Võ Trần Chí đi Quốc lộ 1, xe môtô biển số 75H1-076.03 chuyển động theo hướng ngược lại.” (bút lục số 132-133)

Căn cứ Kết luận giám định số 4385/C09B ngày 25/8/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: “Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe môtô biển số 75H1-076.03, xe môtô biển số 86B2-542.48 và xe môtô biển số 63M1-7788 khi tham gia tai nạn giao thông.” (bút lục số 131).

Tại Bản Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 18/02/2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố bị cáo Đoàn Văn Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tr với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm, vì hiện nay bị cáo cũng bị tai nạn với tỷ lệ thương tật là 55%, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là con út trong gia đình có 07 anh chị em, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Về vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 63M1-7788.

2. Bị cáo Đoàn Văn Tr khai nhận giống như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo rất hối hận, đã cố gắng khắc phục hậu quả, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thời gian trị bệnh và làm ăn giúp đỡ gia đình.

3. Đại diện hợp pháp cho bị hại là bà Huỳnh Thị H2 vắng mặt.

4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trương Văn Qu, ông Trương Văn S vắng mặt và ông Đoàn Văn D có đơn xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra, biên bản khám xe, kết luận giám định về dung tích xi-lanh xe, kết quả giám định pháp y về tử thi, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ cơ sở xác định bị cáo Đoàn Văn Tr điều khiển xe môtô biển số 75H1-076.03 lưu thông chuyển hướng qua đường thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi thẳng, không có giấy phép lái xe, gây tai nạn làm ông Huỳnh Ngọc H tử vong và bản thân bị thương tích 55% là vi phạm khoản 9 Điều 8, Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo Đoàn Văn Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ và tính mạng, sức khỏe của người khác. Khi thực hiện hành vi điều khiển xe máy gây tai nạn giao thông làm chết người, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì chủ quan, cẩu thả, không tuân thủ những quy định của Luật giao thông đường bộ; điều khiển xe lưu thông không quan sát, không nhường đường cho xe đi thẳng, không có giấy phép lái xe theo quy định, là vi phạm vào khoản 9 Điều 8, Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do đó, cần đưa bị cáo ra xét xử để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn bị cáo đã tích cực cùng gia đình đã bồi thường số tiền 75.000.000 đồng nên gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo và cam kết không có yêu cầu gì khác; bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong vụ án này bị hại là ông Huỳnh Ngọc H điều khiển xe môtô biển số 86B2-542.48 lưu thông khi trong người có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (nồng độ ethanol là 145 mg/dL), vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Ngoài ra, trong vụ tai nạn này bị cáo cũng bị tỷ lệ thương tật là 55%, bị gãy xương đùi và cẳng chân, cẳng tay, đầu, đã được phẩu thuật kết hợp xương bằng đinh nội tủy, nẹp vít, đi lại khó khăn, phải điều trị và tái khám dài hạn, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, làm việc, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn nên áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn, bị cáo Đoàn Văn Tr cùng gia đình đã bồi thường số tiền 75.000.000 đồng cho gia đình bị hại nên gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại cho Tr và cam kết không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với ông Trương Văn S (chủ sở hữu xe môtô có số khung CY019944, số máy JC54E-0039010) và ông Đặng Văn Ng (chủ sở hữu biển số 63M1-7788) xác định đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xét.

Về vật chứng vụ án:

- 01 xe môtô biển số 86B2-542.48 do ông Huỳnh Ngọc H đăng ký sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại xe này cho bà Huỳnh Thị H2 (chị ruột của ông H). Hội đồng xét xử không xét.

- 01 xe môtô biển số 75H1-076.03 do ông Đoàn Văn D (cha ruột của Đoàn Văn Tr) đăng ký sở hữu, ông D không biết Tr sử dụng xe môtô trên gây ra vụ tai nạn giao thông. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại xe này cho ông D. Hội đồng xét xử không xét.

- 01 xe môtô có số khung CY019944, số máy JC54E-0039010: Qua giám định số máy số khung nguyên thủy (không thay đổi); qua xác minh, xe môtô trên có biển số 63B3-143.09 do ông Trương Văn S (em họ của ông Trương Văn Qu) đăng ký sở hữu. Ông S đưa xe môtô trên cho ông Qu sử dụng làm phương tiện đi lại, sau khi sử dụng xe ông Qu đã làm rớt mất biển số 63B3-143.09, riêng biển số 63M1-7788 thì ông Qu nhặt được và gắn vào xe sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại xe này cho ông S. Hội đồng xét xử không xét.

- 01 biển số 63M1-7788: Qua giám định không đủ cơ sở xác định biển số này là thật hay giả; qua xác minh do ông Đặng Văn Ng đăng ký sở hữu, ông Ng đã bán xe môtô gắn biển số trên cho một người không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã đăng báo tìm người liên quan nhưng đến nay chưa có ai liên hệ để làm việc. Xét đây là vật không có giá trị, cấm, lưu hành và không có chủ sở hữu nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án và phần trách nhiệm dân sự. Chấp nhận lời nói sau cùng của bị cáo xin được hưởng án treo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Tr 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Thời hạn thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đoàn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Tân K, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự năm 2010.

2. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số 63M1-7788.

(Vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/01/2021 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo biết).

Cỡ chữ