vanban.org

Bản án 62/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lại Thị K.

Chị Lại Thị K được ly hôn với anh Võ Hoàng Quốc T. Về con chung: Con chung tên Võ Hoàng Kim N, sinh ngày 19/7/2000 đã trưởng thành nên không đề cập, anh T trực tiếp nuôi con chung tên Võ Hoàng Tuyết N1, sinh ngày 15/11/2008 chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lại Thị K- Anh Võ Hoàng Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lại Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 62/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 28- 12-2021
V/v Ly hôn, t/c về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Văn Vui

2. Ông Nguyễn Văn Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Ông Thạch Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 208/2021/TLST-HN ngày 29 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐST – HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2021; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lại Thị K, sinh năm 1983; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Võ Hoàng Quốc T, sinh năm 1980; Trú tại: T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Chị K, anh T có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lại Thị K trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh T quen biết nhau qua mai mối sau đó tự nguyện tiến đến hôn nhân vào tháng 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/4/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống chung gia đình chồng. Trong gian sống chung nhận thấy cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nên cuộc sống luôn bất hòa, tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị còn bị đánh đập nên xin ly hôn với anh T.

Về con chung: có 02 con chung tên Võ Hoàng Kim N, sinh ngày 19/7/2000 và con chung tên Võ Hoàng Tuyết N1, sinh ngày 15/11/2008, cháu Kim N đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết, chị để cháu Tuyết N1 cho anh T nuôi chị không cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Anh Võ Hoàng Quốc T xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại biên bản lấy lời khai ngày 29/11/2021 như sau:

Trên cơ sở tìm hiểu quen biết nhau trước anh và chị K tự nguyện tiến đến hôn nhân tổ chức lễ cưới năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/4/2002. Sau khi cưới vợ chồng sống chung gia đình anh, sống hạnh phúc đến năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh ăn chơi, chị K không đồng ý nên vợ chồng xảy ra cự cãi, chị K nhiều lần bỏ nhà đi. Đến năm 2019 khi anh bị tai nạn giao thông thì chị K bỏ nhà đi cho đến nay. Anh và chị K đã chính thức ly thân từ năm 2019 cho đến nay, thời gian sống ly thân vợ chồng anh không có gặp gỡ để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị K xin ly hôn anh đồng ý vì chị K cương quyết ly hôn.

Về con chung : có 02 con chung tên Võ Hoàng Kim N, sinh ngày 19/7/2000 và con chung tên Võ Hoàng Tuyết N1, sinh ngày 15/11/2008, cháu Kim N đã trưởng thành nên không đề cập, anh xin nuôi cháu Tuyết N không yêu cầu chị K cấp dưỡng.

Về tài sản chung: không có

Về nợ chung: không có

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự trong quá trình thụ lý và giải quyết nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Lại Thị K, chị K được ly hôn với anh T. Con chung tên Võ Hoàng Kim N, sinh ngày 19/7/2000 đã trưởng thành nên không đề cập, anh T trực tiếp nuôi con chung tên Võ Hoàng Tuyết N1, sinh ngày 15/11/2008 chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu. Tài sản chung không có nên không xem xét; nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án cần giải quyết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền giải quyết: Theo xác nhận của Công an xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ngày 25-9-2019 xác nhận Võ Hoàng Quốc T hiện có đăng ký thường trú tại xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Chị Lại Thị K, anh Võ Hoàng Quốc T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị K, anh T.

Về hôn nhân: Chị Lại Thị K, anh Võ Hoàng Quốc T kết hôn vào năm 2002, trên cơ sở quen biết và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện M nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị K, chị K cho rằng vợ chồng chị mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm nên cuôc sống luôn bất hòa, tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án chị K vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh T. Anh T cho rằng nguyên nhânvợ chồng mất hạnh phúc là do anh ăn chơi, chị K không đồng ý nên vợ chồng xảy ra cự cãi, chị K nhiều lần bỏ nhà đi Chị K xin ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn với chị K. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mất hạnh phúc giữa chị K và anh T thì mẹ anh T cho biết chị K và anh T có mâu thuẫn do anh T ăn chơi, chị K nói anh không nghe, anh T và chị K không còn sống chung từ năm 2019 cho đến nay. Như vậy, giữa chị K và anh T mâu thuẫn là có thật. Anh chị là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng, thấy rằng mâu thuẫn giữa chị K và anh T đã trầm trọng, muïc ñích hoân nhaân giöõa hai anh chò khoâng ñaït ñöôïc ñôøi soáng chung khoâng theå keùo daøi neân chaáp nhaän yeâu caàu của chị K là phù hợp.

Về con chung: Chị K và anh T có 02 con chung tên Võ Hoàng Kim N, sinh ngày 19/7/2000 và con chung tên Võ Hoàng Tuyết N1, sinh ngày 15/11/2008, cháu Kim N đã trưởng thành không yêu cầu nên không đề cập, chị K để cháu Tuyết N1 cho anh T nuôi, chị không cấp dưỡng, anh T xin nuôi cháu Tuyết N1 không yêu cầu chị K cấp dưỡng. Xét thấy, việc thỏa thuận của chị K, anh T là tự nguyện phù hợp với nguyện vọng của cháu Tuyết N1 tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên ngày 29/11/2021 nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Hoàng Tuyết N1 sinh ngày 15/11/2008 cho anh T trực tiếp nuôi ghi nhận anh T không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị K anh T trình bày không có nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị K anh T trình bày không có nên không xem xét.

Án phí : Do yêu cầu xin ly hôn của chị K được chấp nhận nên chị K phải chịu án phí theo qui định là 300.000 đồng.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lại Thị K.

Chị Lại Thị K được ly hôn với anh Võ Hoàng Quốc T.

2. Về con chung: Con chung tên Võ Hoàng Kim N, sinh ngày 19/7/2000 đã trưởng thành nên không đề cập, anh T trực tiếp nuôi con chung tên Võ Hoàng Tuyết N1, sinh ngày 15/11/2008 chị K không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị K, anh T trình bày không có nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị K anh T trình bày không có nên không xem xét.

5. Án phí: Chị Lại Thị K phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 ( ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu số 0002347 ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc nên không phải nộp thêm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ