vanban.org

Bản án 62/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn ông Lê Bảo C yêu cầu Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 phải trả số tiền gốc đã vay là 98 000 000đồng tiền gốc và 158.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12; Điều 14; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Lê Bảo C thuộc diện ng ời cao tuổi nên miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ông C kiện ông X vay tiền"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn ông Lê Bảo C yêu cầu Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 phải trả số tiền gốc đã vay là 98 000 000đồng tiền gốc và 158.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 62/2021/DS-ST.
Ngày: 08- 12- 2021.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Luyên.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tuyết.

Ông Y Nik Êban.

- Th ký phiên tòa: ông Hồ Quốc Nam - Th

T a án.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n aKar tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến - i m sát vi n

Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 165/2018/TLST - DS, ngày 27 tháng 8 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 65/2021/QĐXXST - DS, ngày 25/10/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2021/QĐST–DS, ngày 12/11/2021; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 16/2021/TA-TA, ngày 30 tháng 11 năm 2021, giữa các đ ơng sự: Nguyên đơn: ông Lê Bảo C ( tên gọi khác: C1), sinh năm: 1955 ( Có mặt) Nơi c trú: thôn 4, xã X P, huyện EK, tỉnh Đă Lă Bị đơn: ông Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 ( Có mặt) Nơi c trú: thôn S1, xã XP, huyện EK, tỉnh Đă Lă Ngƣời có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan: 1. ông Bùi Văn T2, sinh năm: 1960 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt) Nơi c trú: buôn Gia Nú B, xã Q, huyện T, tỉnh Đă Nông 2. bà Trần Thị M, sinh năm: 1964 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt) Nơi c trú: thôn 13, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đă Nông Ngƣời làm chứng: ông Bùi Văn P1 ( Có đơn xin xét xử vắng mặt) Nơi c trú: thôn 2, xã X P, huyện EK, tỉnh Đă Lă

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn hởi kiện ngày 19/7/2018, trong quá trình làm việc tại Tòa án và tại phi n t a nguy n đơn ông Lê Bảo C trình bày:

Ông C và ông X là anh em kết nghĩa n n ngày 18/6/2010 ông C có cho ông X vay số tiền là 171 000 000 đồng, ông X đã trả đ ợc 73 000 000đồng còn nợ lại số tiền 98 000 000đồng ông X vẫn ch a trả. Số tiền 98 000 000đồng ông X vay của ông C nhiều nhần, đây là số tiền vay không phải là số tiền góp đ mua đất nhận đền bù dự án nh

iến của ông X, giữa ông X và ông C không có việc mua đất C. Giấy vay tiền ông C cung cấp đ khởi kiện là do ông C viết nội dung, ông X có ký xác nhận nên ông C làm đơn hởi kiện yêu cầu ông X, bà T1 phải có trách nhiệm trả số tiền đã vay gốc là 98 000 000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm.

* Trong quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn X trình bày: Vào năm 2010 ông X và ông C có góp vốn làm ăn C với nhau đ mua đất nhận đền bù dự án tại tỉnh Đă Nông. Ông C có đ a cho ông X nhiều lần tiền với tổng là 98 000 000đồng; sau này nhà n ớc đền bù cho chủ đất là ông Nguyễn Tất Đ là 192 000 000 đồng. Ông Đ đã nhờ ông Bùi Văn T2 trả giúp cho ông C số tiền là 94 000 000 đồng là số tiền ông X nhờ ông T2 trả thay vì tại thời đi m đó đang ở tỉnh H ng Y n Giấy vay tiền mà ông C cung cấp đ khởi kiện là hông đúng, vì thực tế khi ứng tiền của ông C thì ông X không ký xác nhận, ông C tự mình ghi vào giấy của ông C, trong giấy vay do ông C cung cấp thì toàn bộ nội dung là do ông C tự viết, ông X chỉ có ghi t n “ X”. Sau khi nhận tiền từ ông T2 thì ông X và ông C đã thống nhất thanh toán xong tiền nên ông C đã gạch nợ. Do là anh em kết nghĩa n n ông X không yêu cầu ông C hủy giấy này đi n n ông C đã lợi dụng việc này đ đi hởi kiện. Vì vậy đề nghị Tòa án triệu tập ông T2, bà M, ông P1 đến Tòa án đ làm rõ Đồng thời trong hồ sơ vụ án năm 2015 T a án đã thu thập đầy đủ chứng cứ và đã làm rõ số tiền 98 000 000 đồng là tiền làm ăn giữa ông C và ông X. Do vậy, ông X hông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C.

Bị đơn bà Tr ơng Thị T1 trình bày: Tôi (T1) đồng ý với ý kiến trình bày của ông X, bà T1 hông đồng ý với kiến khởi kiện của ông Lê Bảo C.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2020 ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T2 trình bày: ông Bùi Văn T2 có mua đất C với ông Nguyễn Văn X vào năm 2010, sau đó diện tích đất mua C đ ợc nhận đền bù với tổng số tiền là 192 000 000đồng Vào năm 2012 ông T2 đã 02 lần nhận hộ cho ông X tiền đền bù từ ông Nguyễn Tất Đ ( là chủ đất) với số tiền nhận là 94 000 000đồng, khi nhận tiền ông T2 có gọi điện cho ông X nh ng do ông X đang ở H ng Y n n n ông X có nhờ ông T2 đ a tiền cho ông C, ng ời nhận số tiền 94 000 000đồng này là ông C nhận và ông C đã thừa nhận tại giấy nhận tiền ngày 20/4/2013. Việc ông X có vay tiền của ông C hay không thì ông T2 không biết, ông X có nhờ ông T2 trả số tiền 94 000 000đồng cho ông C thì ông T2 đã trả. Ngoài ra, ông T2 không trình bày gì thêm.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/01/2021 bà Trần Thị M trình bày: Vào năm 2010, bà M và chồng là ông Nguyễn Tất Đ( ông Đ đã chết năm 2017) có bán cho ông C diện tích đất là 3.000m2 với số tiền 90 000 000đồng Đến năm 2012 thì diện tích đất này đ ợc Nhà n ớc đền bù với số tiền là 197 000 000đồng, số tiền này bà M, ông Đ đã giao cho ông T2 đ ông T2 giao lại cho ông C và các bên có viết giấy nhận tiền nh ng do đã lâu giấy tờ đã thất lạc bà M không còn giữ. Việc ông C và ông X vay tiền nh thế nào bà M không biết n n đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 11/10/2021 ng ời làm chứng ông Bùi Văn P1 trình bày: Ngày 08/02/2010 ông Lê Bảo C có nhờ ông P1 cầm số tiền 20 000 000đồng đ a cho ông Nguyễn Văn X, số tiền này ông X đã nhận Sau đó đến ngày 10/02/2010 ông C có cùng ông P1 đi trả nợ hộ 3 000 000đồng tiền dầu cho ông X tại cây xăng Hồng Phú. Việc ông X và ông C góp vốn hay vay tiền nh thế nào ông P1 không biết, ông C có nhờ ông P1 ký xác nhận ng ời làm chứng đối với hai khoản tiền trên thì ông P1 ký xác nhận, còn việc ông X, ông C lập giấy tờ với nhau từ khi nào thì ông P1 không biết. Ngoài ra ông P1 không trình bày gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, T a án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho các đ ơng sự và triệu tập các b n đ ơng sự đến Toà án đ tiến hành phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do các b n đ ơng sự không thỏa thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, T a án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắ đ a vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Ngày 12/11/2021 Tòa án nhân dân huyện Ea Kar mở phi n t a đ xét xử vụ án nh ng ông Nguyễn Thái T, ông Bùi Văn T2, bà Trần Thị M, ông Bùi Văn P1 đều vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1, Điều 227; Khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguy n đơn ông Lê Bảo C vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 phải có trách nhiệm trả số tiền đã vay là 98 000 000đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm. Bị đơn ông X, bà T1 hông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông C vì thực tế số tiền 98 000 000đồng không phải tiền vay mà là tiền góp vốn đ mua đất nhận tiền đền bù của Nhà n ớc, sau khi nhận tiền đền bù các b n đã thanh toán xong n n ông C đã gạch bỏ đối với số tiền này.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thực hiện đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự về phi n toà sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những ng ời tham gia tố tụng k từ khi thụ lý vụ án cho đến tr ớc thời đi m Hội đồng xét xử nghị án nguy n đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn, ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; ng ời làm chứng có đơn xin xét xử vắng mặt là thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 và Điều 78 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Thời hạn giải quyết vụ án ch a đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan đi m giải quyết vụ án: Theo giấy vay tiền ngày 18/6/2010 ông Nguyễn Văn X có ứng của ông Lê Bảo C tổng 05 lần tiền với tổng là 98.000 000đồng, lãi 1,2%, nội dung giấy vay tiền này đ ợc th hiện phần bên trên của giấy vay tiền Sau đó phần phía d ới có ghi nội dung “ tách ra 25 triệu làm nhà tr ờng, còn lại 73 triệu” chú X phải chịu trách nhiệm số tiền trên, ký tên X, Nguyễn Văn X” Nội dung phía d ới đã đ ợc gạch bỏ và ng ời gạch bỏ là ông C vì ông C cho rằng ông X đã trả nên gạch bỏ, bản thân ông C không chứng minh đ ợc số tiền bị gạch bỏ là số tiền vay của khoản tiền nào, chứng cứ chứng minh cho khoản vay này, đồng thời số tiền bị gạch bỏ phù hợp với số tiền vay Do đó, có th khẳng định ông X đã trả số tiền nhận từ ông C là 98 000 000đồng. Từ những phân tích tr n, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật dân sự: Bác đơn hởi kiện của ông Lê Bảo C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 phải trả số tiền đã vay là 98 000 000đồng và tiền lãi phát sinh là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phi n t a ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn T2, bà Trần Thị M; ng ời làm chứng ông Bùi Văn P1 có đơn xin xét xử vắng mặt Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Ea ar đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án nhân dân huyện Ea ar đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đã có đơn xin xét xử vắng mặt Căn cứ vào đi m b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 3, Điều 228 và Khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ng ời làm chứng là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đơn hởi kiện của ông Lê Bảo C bà đề ngày 19/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Ea ar xác định quan hệ pháp luật là “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, đ ợc quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 có nơi c trú tại thôn S, xã XP huyện E K, tỉnh Đă Lă Áp dụng khoản 3 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a khoản 1 Điều 39, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì T a án nhân dân huyện EaKar thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung khởi kiện:

Xét yêu cầu khởi kiện: Nguy n đơn ông Lê Bảo C yêu cầu ông Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 phải trả số tiền đã vay là 98 000 000đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo giấy vay tiền ông Lê Bảo C cung cấp cho Tòa án th hiện ông X có ứng của ông C ( tên gọi khác là Chúc) 05 lần tiền với tổng số tiền là 98 000 000đồng, việc ứng tiền này đã đ ợc ông X thừa nhận là đúng Sau đó phần phía d ới của nội dung giấy vay tiền có ghi “ Tách ra 25 triệu làm nhà trường, còn lại 73 triệu” và toàn bộ nội dung này đã đ ợc ông C thừa nhận mình là ng ời trực tiếp gạch bỏ, vì cho rằng ông X đã trả tiền của khoản vay hác nh ng ông C không cung cấp đ ợc chứng cứ, tài liệu chứng minh cho khoản vay khác này là khoản vay nào số tiền trong phần d ới do ông C gạch bỏ phù hợp với số tiền ông X thừa nhận đã ứng của ông C ở phần trên. Giấy vay tiền th hiện nội dung phía trên là việc ứng tiền, phía d ới là phần thanh toán đã đ ợc ông C gạch bỏ, giấy vay tiền này ông C là ng ời nắm giữ và ông C cũng là ng ời gạch bỏ phần đã trả. Lời trình bày của ông Lê Bảo C hông đúng thực tế khách quan, không có tài liệu chứng cứ chứng minh, không phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà chính mình cung cấp. Do đó, y u cầu khởi kiện của ông Lê Bảo C là không phù hợp.

Xét yêu cầu tính tiền lãi của ông Lê Bảo C, trong giấy vay tiền không th hiện ngày trả nợ, lãi suất thỏa thuận là 1,2%/tháng. Số tiền lãi đ ợc tính hai thời đi m:

- Thời đi m từ ngày vay đến ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu l c pháp luật: Theo giấy nhận nợ và ý kiến của ông C cho rằng hai bên tự nguyện thỏa thuận lãi suất 1,2%/tháng HĐXX, xét thấy, việc giao kết giao dịch dân sự giữa ông C với ông X là hoàn toàn tự nguyện, nh ng các b n thỏa thuận mức lãi suất 1,2%/tháng là v ợt quá mức quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 và v ợt quá mức lãi suất cơ bản đ ợc quy định tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng nhà n ớc nên cần tính lãi suất cụ th đối với số tiền 98 000 000 đồng theo giấy nhận nợ 18/6/2010: Từ ngày vay 18/6/2010 đến ngày 31/12/2016 là 2.383 ngày: 98 000 000 đồng x 1,125% x 2.383 ngày/30 = 87.575.250đồng.

- Thời đi m từ ngày 01/01/2017 đến ngày đến hạn trả nợ ngày xét xử là ngày 08/12/2021. Dù giao dịch dân sự có khoản vay đ ợc xác lập tr ớc ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật và có khoản vay đ ợc xác lập tại thời đi m Bộ luật dân sự năm 2015 đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhi n, theo quy định tại Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều khoản chuy n tiếp) thì giao dịch dân sự ch a đ ợc thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của bộ luật này đ giải quyết Do đến thời đi m Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, ông C vẫn yêu cầu nên cần áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 đ tính lãi suất Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Tr ờng hợp các bên có thỏa thuận lãi suất thì lãi suất thỏa thuận hông đ ợc v ợt quá 20%/năm (1,66%/tháng). Vì vậy, lãi suất hai bên thỏa thuận 1,2%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên tiền lãi tính nh sau: Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 08/12/2021 là 1789 ngày: 98 000 000 đồng x 1,2% x 1796 ngày/30 = 70.403 000đồng.

Tổng số tiền lãi là 158.278.250đồng.

Từ những phân tích nêu trên về tài liệu chứng cứ của ông C là hông có căn cứ nên cần áp dụng Điều 463; Điều 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Bảo C đối với số tiền vay gốc 98 000 000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm là 158 278 250 đồng là phù hợp.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn hông đ ợc chấp nhận nên nguy n đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do nguyên đơn có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí do ng ời cao tuổi n n căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn toàn bộ tiền án phí cho Nguy n đơn

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35, đi m a khoản 1 điều 39, Điều 195, Điều 203; Khoản 2, Điều 227; Khoản 3, Điều 228; Khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự.

Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn ông Lê Bảo C yêu cầu Nguyễn Văn X, bà Tr ơng Thị T1 phải trả số tiền gốc đã vay là 98 000 000đồng tiền gốc và 158.278.250 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 256 278 250đồng,( Hai trăm năm mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm năm mươi đồng)

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12; Điều 14; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Lê Bảo C thuộc diện ng ời cao tuổi nên miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Bảo C.

Hoàn trả lại cho ông Lê Bảo C số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 5 272 500 đồng theo bi n lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0004533 ngày 21/8/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện EaKar.

Quyền kháng cáo: Nguy n đơn; bị đơn đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án.

Ng ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc bản án đ ợc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ