- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lâm Bích N phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Bích N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2020/HS-ST Ngày: 22-4-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Bảo Ngọc
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Thanh
2. Ông Nguyễn Thế Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2021/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Bích N; (tên gọi khác: Không), sinh năm 1999, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Khu phố x, phường y, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Khu phố x1, phường y1, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Thuận H – SN 1974; con bà: Lê Thị L – SN 1974; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; chồng: Chung sống như vợ chồng với Nguyễn Đắc T – SN 1993, con: 01 con sinh ngày 20/10/2018; Tiền án - Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện được tại ngoại, địa chỉ Khu phố x1, phường y1, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị L– sinh năm 1974; cư trú tại: Khu phố x, phường y, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm nên Lâm Bích N nảy sinh ý định ghi bán số đề cho con bạc để kiếm tiền tiêu xài. Khoảng tháng 7/2020, N bắt đầu ghi và bán số đề tại nhà ở tổ x2, khu phố y2, phường z2, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thông qua tin nhắn đến số điện thoại 0794557977, qua Zalo và ghi trực tiếp. Kết quả thắng thua của các con bạc mua số đề dựa vào kết quả xổ số đài Miền Nam hàng ngày, mỗi đài có 18 (mười tám) kết quả tương ứng với 18 (mười tám) giải, con bạc mua trùng với kết quả là trúng đề, còn lại là thua. Đài miền Bắc cách đánh tương tự đài miền Nam, mỗi đài có 27 (hai mươi bảy) kết quả tương ứng với 27 (hai mươi bảy) giải.
Hình thức ghi và bán số đề cho các con bạc cụ thể như sau: Hình thức đánh đầu đuôi: Căn cứ vào kết quả giải tám và hai số cuối giải đặt biệt của kết quả xổ số, số tiền thắng gấp 70 lần số tiền ghi; Lô thường: Ghi số từ 00 đến số 99, khi bao lô số đó thì căn cứ vào hai số cuối của 18 giải xổ số để tính số thắng thua, số tiền thắng gấp 70 lần số tiền ghi; Đá xiên hai số: Con bạc phải mua hai số trong dãy số từ 00 đến 99 và bao lô hai số đó, nếu hai số đó trùng với 18 giải của xổ số thì thắng, số tiền thắng gấp 500 lần số tiền ghi; Bao lô ba số: Con bạc mua số trong dãy số từ 000 đến 999, căn cứ vào ba số cuối của giải đặc biệt, giải nhất đến giải bảy của xổ số để tính thắng thua, số tiền thắng gấp 600 lần số tiền ghi; Đá xiên ba số: con bạc mua 03 số trong dãy số từ 00 đến 99, căn cứ vào hai số cuối của các kết quả xổ số để tính thắng thua, số tiền thắng gấp 500 lần số tiền ghi; Ghi xỉu chủ: Con bạc mua số trong dãy số từ 000 đến 999, căn cứ vào ba số cuối của giải đặc biệt và giải bảy của xổ số để tính thắng thua, số tiền thắng gấp 600 lần số tiền ghi.
Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 07/10/2020, Nguyễn Văn T, đến nhà N ở tổ x2, khu phố y2, phường z2, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để mua số đề, Tú mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) các con số “57,75; 35,75; 78,87” với hình thức đánh “số đá”. Do N đang bận việc ở phía sau nhà nên bà Lê Thị Llà mẹ đẻ của N thấy Tú đến ghi đề thì đã bán đề giùm cho N. Khi bà L đang thực hiện việc ghi số đề cho Tú thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng của bà Lê Thị L; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo CPH1989 màu xanh xám và 01 (một) sim điện thoại số 0794557977 của Lâm Bích N và số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Trong ngày 07/10/2020, Lâm Bích N đã bán số đề đài miền Nam cho 17 con bạc với số tiền mua đề là 10.017.000 đồng (Mười triệu, không trăm mười bảy nghìn đồng). Riêng Lê Thị Lđã bán giúp N các số đề “57,75; 35,75; 78,87” và thu về số tiền thực tế là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). So sánh kết quả các đài miền Bắc, miền Nam mở thưởng trong ngày 07/10/2020 thì có 02 số đề do Lâm Bích N đã bán trúng thưởng, cụ thể: Số đuôi “09” của đài Sóc Trăng trúng thưởng, số tiền trúng thưởng là (15 điểm x 70.000đ) 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); Số bao lô “52” của đài Đồng Nai trúng thưởng, số tiền trúng thưởng là (20 điểm x 70.000đ) 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm ngàn). Vậy tổng số tiền Lâm Bích N đánh bạc dưới hình thức ghi và bán số đề trong ngày 07/10/2020 là 12.467.000đ (Mười hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn).
Về xử lý vật chứng: các vật chứng gồm: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng của bà Lê Thị Loan; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo CPH1989 màu xanh xám và 01 (một) sim điện thoại số 0794557977 của Lâm Bích N và số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đã được chuyển qua Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý.
Đối với các lần ghi số đề trước ngày 10/07/2020, hiện không thu được tài liệu chứng cứ nên không đủ căn cứ để xem xét hành vi đánh bạc của N trước đó.
Quá trình điều tra xác định bà Lê Thị Lbiết việc Lâm Bích N ghi số đề nhưng cụ thể ghi bán như thế nào thì bà L không biết, không tham gia hay hưởng lợi gì từ N bán số đề nên không đồng phạm với N về tội “Đánh bạc”, bà L là mẹ ruột của N nên không bị truy cứu trách Nệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 của Bộ luật hình sự. Ngày 10/07/2020, bà L có hành vi bán giùm số đề cho N nhưng số tiền bán dưới 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), bà L chưa có tiền án, tiền sự nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Ngày 09/11/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thị Lvề hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền.
Đối với Nguyễn Văn T có hành vi mua số đề nhưng số tiền mua dưới 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trong quá trình làm việc Tú đã chạy thoát. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đang tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 17/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Lâm Bích N phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ: Giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với Lâm Bích N và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; điểm i, n, s, khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt Lâm Bích N từ 06 đến 09 tháng tù;
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo CPH1989, Kèm sim; và số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn).
Hoàn trả cho 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 cho bà Lê Thị Loan;
Về ý kiến bà L: Thừa nhận hành vi giúp Lâm Bích N bán đề cho Nguyễn Văn T và không có ý kiến gì thêm.
Về ý kiến bị cáo: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, không tranh luận và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại di động, Biên bản về việc cộng phơi đề + bản thống kê phơi đề, Kết quả sổ xố ngày 07/10/2020, biên bản ghi lời khai của người làm chứng… nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ, ngày 07/10/2020, tại khu phố Song Vĩnh, phường Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Bích N có hành vi đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh số đề cho con bạc thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Tổng số tiền N sử dụng vào việc đánh bạc trong ngày 07/10/2020 là 12.467.000đ (Mười hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).
Nên Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt áp dụng với bị cáo:
Xét tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi biết việc đánh bạc là hành vi bị pháp luật nhà nước nghiêm cấm nhưng vì lười lao động nên vẫn thực hiện, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh tại địa phương và xã hội nên cần xử phạt các hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy Nên khi xem xét hình phạt cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định pháp luật để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra đến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đồng thời tại thời điểm xét xử bị cáo là người đang có thai nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại theo điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt áp dụng: Từ những nhận định trên xét thấy bị cáo có Nều tình tiết giảm nhẹ đồng thời hiện đang đang có thai và nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo có thời gian thử thách theo Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Đồng thời buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền để nộp thu vào ngân sách nhà nước.
Về vấn đề khác: Đối với bà Lê Thị Lvà Nguyễn Văn T có hành vi đánh bạc nhưng số tiền dưới 5.000.000 đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Về xử lý khoản tiền thu lợi bất chính: Bị cáo thu lợi bất chính từ việc đánh bạc số tiền 12.467.000 đồng trong đó có số tiền bị thu giữ 200.000 đồng. Vì vậy buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính còn lại từ việc đánh bạc là 12.267.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo CPH1989, màu xanh xám, của bị cáo; và số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn) là tang vật của vụ án. Hoàn trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, cho bà Lê Thị L.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Lâm Bích N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Lâm Bích N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 321; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lâm Bích N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/4/2021).
Giao bị cáo Lâm Bích N cho Ủy ban nhân dân phường Tân Phước, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo phải nộp số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu) để sung quỹ nhà nước.
3. Về xử lý khoản tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 12.267.000 đồng (mười hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn).
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo CPH1989, màu xanh xám, số Imel: 869778040986730, 869778040986722, số Imel ghi theo quyết định chuyển vật chứng, máy đã cũ và không hoạt động; 01 sim điện thoại Mobifone số 0794557977; và số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn).
Hoàn trả cho bà Lê Thị L01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu vàng, số Imel:356543105065436, máy đã cũ và không hoạt động. Kèm sim.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 61/BB-CCTHADS ngày 18/3/2021 và biên lai thu tiền số 0004575 ngày 18/3/2021).
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lâm Bích N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người vắng mặt tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - VKSND tỉnh BR-VT; - PV 06 - Công an tỉnh BR-VT; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - Sở tư pháp tỉnh BR-VT; - Công an thị xã Phú Mỹ; - Bị cáo, NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ; | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Bảo Ngọc |