vanban.org

Bản án 62/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Bá K - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2020/HS-ST
Ngày 29 - 12 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Ba

Ông Tạ Văn Đức.

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá K (tên gọi khác Nguyễn Bá D), sinh ngày 31/12/1946; nơi sinh và cư trú: Thôn P 2, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá T (đã chết) và bà Đặng Thị T (đã chết); vợ: Lê Thị X, sinh năm 1946, con: Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1971, con nhỏ nhất sinh năm 1983; tiền án: Không.

Tiền sự: Tại quyết định số 01/QĐ-XPVPHC ngày 25/3/2020, Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá K: Ông Lê Văn D, sinh năm 1979 - là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Địa chỉ: Đường Phạm Văn Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1, Anh Trịnh Văn S, sinh năm 1973 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn L 2, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

2, Ông Trần Quảng L, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn P 2, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

3, Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn 8, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Người chứng kiến: Ông Phan Đình M (có mặt).

Địa chỉ: Thôn P 2, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Người được triệu tập để xét hỏi: Chị Phan Thị C, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn P 2, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 05 phút ngày 13/9/2020, Nguyễn Bá K đang ở nhà tại thôn P 2, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì có Trịnh Văn S, sinh năm 1973 trú tại thôn L 2, xã T đến hỏi mua các số lô, số đề. K đồng ý bán cho S các số lô 16, 61, 71, 30, 59 mỗi số bằng 20 điểm, (một điểm bằng 22.500 đồng); các số đề 59 bằng 100.000 đồng; số đề 23, 95 mỗi số 50.000 đồng; hết tổng số tiền 2.450.000 đồng. K khuyến mại cho S 40.000 đồng. S đưa cho K một mảnh giấy ghi các số lô, số đề sau đó K ghi số tiền mà S phải trả vào mảnh giấy này rồi đưa lại cho S để đối chiếu trả thưởng, S chưa kịp trả tiền cho K thì bị Công an huyện Yên Lạc và Công an xã H bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Thu của K 6.246.000 đồng; 01 mảnh giấy có các dòng kẻ ô; 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio; 01 bút mực màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S A20 màu đen đã qua sử dụng;

Thu của Trịnh Văn S 4.270.000 đồng; 01 mảnh giấy ghi các ký tự chữ và số.

Tại Cơ quan Công an huyện Yên Lạc, K khai nhận cùng ngày trước khi bán số lô, số đề cho S, K đã bán số lô, số đề cho ông Trần Quảng L, sinh năm 1960 ở cùng thôn với K các số đề ba càng 023 bằng 120.000 đồng; 001 bằng 20.000 đồng; 623 bằng 10.000 đồng; các số đề 32 bằng 20.000 đồng; 73, 37 mỗi số bằng 10.000 đồng, các số lô 59, 95 mỗi số 2 điểm hết số tiền 278.000 đồng. K khuyến mại cho ông L 33.000 đồng nên chỉ nhận 245.000 đồng. Ông L trả cho K 185.000 đồng còn nợ lại 60.000 đồng. Khoảng 15 giờ 42 phút cùng ngày K nhận được tin nhắn từ số điện thoại 0378.176.013 của Đỗ Văn H ở xã H là khách quen của K nhắn tin vào số điện thoại 0375.495.238 của K hỏi mua các số đề 36, 63, 46, 64, 69, 96, 68, 86 mỗi số bằng 20.000 đồng. K nhắn tin lại “Ok” tức là đồng ý bán cho Huy các số đề trên. Số tiền Huy mua số đề của K là 160.000 đồng và nợ K số tiền này.

Quá trình điều tra ông Trần Quảng L tự nguyện nộp 60.000 đồng là tiền mua số đề của K còn nợ. Đỗ Văn H tự nguyện nộp 160.000 đồng là tiền mua số đề của K còn nợ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu S J2.

Tại Cơ quan điều tra K khai bán số lô, số đề từ đầu năm 2020. K tự thu tiền và thanh toán tiền cho khách khi khách trúng thưởng, không chuyển bảng đề cho ai. Hình thức ghi bán số lô, số đề và tỷ lệ ăn thua thống nhất với người mua như sau: Số lô, số đề là các số tự nhiên từ 00 đến 99. K bán 01 điểm lô bằng 22.500 đồng (khách quen bán 22.000 đồng), nếu người mua trúng sẽ được trả 80.000 đồng/01 điểm. Số tiền đề trúng thưởng sẽ được trả gấp 70 lần số tiền khách mua. Số ba càng trả gấp 400 lần. Kết quả số lô, số đề lấy theo kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày. Cụ thể số đề trúng thưởng là 02 số cuối của giải đặc biệt; số lô trúng thưởng là số trùng 02 số cuối của tất cả các giải thưởng mở trong ngày; số ba càng là số trùng 03 số cuối của giải đặc biệt trong ngày. Sau khi trả thưởng cho khách trúng thưởng K hủy bỏ tờ giấy ghi số lô, số đề và xóa tin nhắn điện thoại ghi số lô, số đề mà khách mua nên không có căn cứ xác minh làm rõ hành vi đánh bạc của K trước ngày 13/9/2020.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 04/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Bá K về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, o, s, x khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo K từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 3.916.000 đồng là tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, tịch thu tiêu hủy 01 bút mực màu đen, tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 máy tính cầm tay, 01 điện thoại S A20 và 01 điện thoại S J2. Trả lại cho Nguyễn Bá K 5.000.000 đồng, trả lại cho Trịnh Văn S 1.820.000 đồng.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá K trình bày: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người có công với cách mạng, là người cao tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo K được mức án thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ 30 phút đến 16 giờ 05 phút ngày 13/9/2020 tại nhà của mình ở thôn P 2, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Bá K bán số lô, số đề cho Trịnh Văn S, Trần Quảng L và Đỗ Văn H với tổng số tiền 2.888.000 đồng thì bị bắt quả tang. Hành vi bán số lô, số đề của Nguyễn Bá K đã phạm vào tội “Đánh bạc”.

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, phù hợp lời khai của người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Bá K phạm tội: “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Điều luật quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, động cơ phạm tội của bị cáo là tham lam tư lợi, vì muốn có tiền tiêu sài cá nhân thông qua con đường cờ bạc. Như chúng ta biết cờ bạc là tệ nạn xấu của xã hội cũ để lại nó không những xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã H nói riêng và trên địa bàn huyện Yên Lạc nói chung. Hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh một số tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo là người phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, bị cáo có đủ nhận thức về những việc không được làm, tháng 3/2020 bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, chỉ vì hám lợi mà dẫn đến phạm tội. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao, song xét thấy bị cáo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền phạm tội không lớn, ở Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, thực sự tỏ ra ăn năn hối cải, khi phạm tội bị cáo là người trên 70 tuổi, bản thân bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm i, o, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, nên Hội đồng xét xử đã xem xét cân nhắc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Bá K cho Uỷ ban nhân dân xã H nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với Trần Quảng L, Trịnh Văn S và Đỗ Văn H là người trực tiếp mua số lô, số đề của K đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Xác minh tại Ủy ban nhân dân các xã H, T và H các đối tượng trên đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc. Số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Bị cáo là người già, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, kinh tế gia đình khó khăn cuộc sống dựa vào sự chu cấp của các con nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 10.736.000 đồng trong đó có 3.916.000 đồng bị cáo sử dụng vào việc mua bán số lô, số đề đây là tiền bị cáo thu lời bất chính cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; số tiền 1.820.000 đồng thu của Trịnh Văn S không sử dụng vào việc đánh bạc nên trả lại cho S, Số tiền 5.000.000 đồng là tiền chị C trả nợ cho bị cáo và không sử dụng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo K; 01 bút mực màu đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A20; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J2 bị cáo K và anh Huy dùng làm phương tiện đánh bạc nên cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước; 01 mảnh giấy có các dòng kẻ ô thu của K và 01 mảnh giấy ghi các ký tự chữ và số thu của S cần lưu trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và là người có công với cách mạng được tặng huy chương kháng chiến. Theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo thuộc trường hợp được miễn toàn bộ tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUY T ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá K (tên gọi khác Nguyễn Bá D) phạm tội: “Đánh bạc’’.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, o, s, x khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá K (tên gọi khác Nguyễn Bá D) 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Bá K cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 3.916.000 đồng.

Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Casio; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A20 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung J2 Prime màu vàng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bút mực màu đen.

Trả lại cho Nguyễn Bá K 5.000.000 đồng.

Trả lại cho anh Trịnh Văn S 1.820.000 đồng.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 12 năm 2020 giữa Công an huyện Yên Lạc và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Lạc).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Bá K.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ