- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Trung K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vương Trung K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 62/2020/HS-ST Ngày: 29-4-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Hịa.
Ông Nguyễn Quang Khải.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên;
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 04 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vƣơng Trung K, tên gọi khác: Không; sinh năm 1970, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vương Công K1, sinh năm 1943 và con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1937; có vợ: Vũ Thị N, sinh năm 1971 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1995; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/01/2020, tạm giam từ ngày 06/01/2020 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.
Ngƣời có nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Văn Đ, sinh năm 1984.
Trú tại: Thôn V, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
(Anh Trương Văn Đ vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 04/01/2020, Vương Trung K đi bộ từ nhà đến bản H, xã T, huyện Điện Biên gặp và mua được một gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng và 10 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng với giá 350.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 45 tuổi (không biết tên, địa chỉ), mục đích đem về để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, K mang về nhà ở Thôn V, xã T, huyện Điện Biên đổ gói Heroine vào trong một chiếc lọ nhựa màu vàng có nắp đậy màu xanh và cho 10 viên Methamphetamine vào trong một lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng rồi cất giấu tại túi quần bên phải đang mặc. Sau đó, K lấy 02 viên Methamphetamine sử dụng hết bằng hình thức hút. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi Vương Trung K đang ở nhà thì Trương Văn Đ, sinh năm 1984, trú tại Thôn V, xã T, huyện Điện Biên đến hỏi mua Methamphetamine của K để sử dụng, K đã bán cho Đồng 01 viên Methamphetamine với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được Methamphetamine, Đồng mang ra bờ ruộng thuộc Đội 02, xã T, huyện Điện Biên sử dụng hết. Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi K đang ở nhà thì bị Công an huyện Điện Biên vào nhà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi quần bên phải K đang mặc một lọ nhựa màu vàng có nắp đậy màu xanh, bên trong có 0,94 gam (không phẩy chín mươi bốn) gam Heroine; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng, bên trong có 07 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 0,75 gam và 50.000 đồng do K bán Methamphetamine cho Trương Văn Đ mà có.
Tại phiên tòa bị cáo Vương Trung K đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai hoàn toàn phù hợp với nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....
Kết luận giám định số 82/GĐ-PC09 ngày 11/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của K gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của K gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine; Khối lượng vật chứng thu giữ của K gồm 0,94 gam chất bột màu trắng và 0,75 gam viên nén màu hồng. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận Giám định nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT - VKSHĐB ngày 18/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 07 (bẩy) năm đến 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,75 gam Methamphetamine, trích mẫu 0,11 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,64 gam và 0,94 gam Heroine, trích mẫu 0,06 gam gửi giám định, vật chứng còn lại: 0,88 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 lọ nhựa màu trắng có chiều dài 07cm, đường kính đáy lọ 2,5cm, nắp đậy màu trắng dài 03 cm; 01 lọ nhựa màu vàng có chiều dài 07cm, đường kính đáy lọ 02 cm nắp đậy màu xanh dài 03cm. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vương Trung K phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Vương Trung K hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
. Hành vi của bị cáo: Khoảng 8 giờ, ngày 04/01/2020, Vương Trung K đi bộ từ nhà đến Bản H, xã T, huyện Điện Biên gặp người đàn ông dân tộc thái khoảng 45 tuổi (không biết tên, địa chỉ) và mua một gói Heroine và 10 viên Methamphetamine với giá 350.000 đồng. Khoảng 10 giờ cùng ngày K bán cho Trương Văn Đ 01 viên Methamphetamine với giá 50.000 đồng, số còn lại K khai để bản thân sử dụng và có ai mua thì bán kiếm lời. Toàn bộ số ma túy còn lại có khối lượng 0,94 gam Heroine và 0,75 gam Methamphetamine đã bị thu giữ, bị cáo mục đích mua ma túy về để sử dụng và ai mua thì bán, cùng ngày đã bán Heroine cho Đồng, số còn lại vẫn với mục đích để có ai mua thì bán, vì vậy căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai tại phiên tòa thì bị cáo K phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên”.Với hành vi trên thì có đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng cũng như địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết nào tăng nặng. Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Học hết lớp 7/12 nghỉ học. Năm 1975 chuyển đến xã T, huyện Điện Biên sinh sống. Năm 1990 kết hôn với chị Vũ Thị N đến năm 2017 ly hôn. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2007 cho đến nay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự khai ra việc đã 01 lần bán Methamphetamine cho Trương Văn Đ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nguồn thu chính từ làm ruộng, bản thân bị cáo sử dụng ma túy. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về hành vi của bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật và được chấp nhận.
. Nguồn gốc số Heroine thu giữ của bị cáo, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc thái khoảng 45 tuổi, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.
. Đối tượng Trương Văn Đ là người nghiện chất ma túy đã mua Methamphetamine của K để sử dụng. Ngày 25/02/2020, Công an huyện Điện Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20 đối với Đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” , hình thức: Cảnh cáo. Nên HĐXX không đặt vấn đề xử lý.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,75 gam Methamphetamine, trích mẫu 0,11 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,64 gam và 0,94 gam Heroine, trích mẫu 0,06 gam gửi giám định, vật chứng còn lại: 0,88 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 lọ nhựa màu trắng có chiều dài 07cm, đường kính đáy lọ 2,5cm, nắp đậy màu trắng dài 03 cm; 01 lọ nhựa màu vàng có chiều dài 07cm, đường kính đáy lọ 02 cm nắp đậy màu xanh dài 03cm. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Vương Trung K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Vương Trung K 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 04/01/2020.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,75 gam Methamphetamine, trích mẫu 0,11 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,64 gam và 0,94 gam Heroine, trích mẫu 0,06 gam gửi giám định, vật chứng còn lại: 0,88 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 lọ nhựa màu trắng có chiều dài 07cm, đường kính đáy lọ 2,5cm, nắp đậy màu trắng dài 03 cm; 01 lọ nhựa màu vàng có chiều dài 07cm, đường kính đáy lọ 02 cm nắp đậy màu xanh dài 03cm.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
(Vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2020).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/04/2020)./.
| Nơi nhận: - VKSND t. Điện Biên; -VKSND h. Điện Biên - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an h. ĐB - Nhà tạm giữ CA huyện Điện Biên - Trại giam; - CQĐT CA huyện ĐB. - Bị cáo - Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên - Thi hành án Dân sự h. Điện Biên - Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - L u hå sơ THA. - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu bộ phận. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Lƣờng Văn Hịa HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Văn Xuyên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Thị Thanh Thủy Nguyễn Quang Khải THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Thanh Hồng Vũ Thị Thanh Thủy |