- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Huỳnh K - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKSST ngày 29-6-2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đối với bị cáo Trương Huỳnh K. Sửa phần áp dụng điều luật và quyết định hình phạt đối với bị cáo Trương Huỳnh K tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-S…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2020/HS-PT. Ngày: 12-8-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Thẩm phán:
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Bà Tăng Thị Thúy Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Nhiên-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà -Kiểm sát viên.
Trong ngày 12-8-2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2020/TLPT-HS ngày 10-7-2020 đối với bị cáo Trương Huỳnh K do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 02-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo bị kháng nghị: Trương Huỳnh K; Sinh năm: 1986; Nơi sinh: huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn H (còn sống) và bà Huỳnh Thị Ngọc Đ (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Diễm K và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: Không; Có 01 tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPVPHC, ngày 21-5-2019, Trương Huỳnh K bị UBND huyện C xử phạt với số tiền 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức đánh bạc (chấp hành ngày 21-5-2019); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 04-3-2020. (có mặt)
- Những người không kháng cáo, không liên quan đến kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NLQ1, NLQ2 và NLQ3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21-5-2019 Trương Huỳnh K bị Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc, Khả đã thực hiện việc nộp phạt ngày 21-5-2019.
Vào khoảng 15 giờ ngày 07-01-2020, NLQ1 đang uống cà phê tại quán cà phê của Trương Huỳnh K thì có NLQ2 và NLQ3 cùng uống cà phê tại quán. NLQ1, NLQ2 và NLQ3 rủ nhau đánh bài ấn độ ăn thua bằng tiền, cả 3 mượn bộ bài tây của K, lúc này K cũng cùng tham gia đánh bài, NLQ1 làm cái cho NLQ2, NLQ3 và K đặt tụ. Khi đánh bài NLQ1 lấy số tiền 100.000 đồng dùng để đánh bạc, NLQ1 để tiền dưới bàn chân (ngoài ra NLQ1 còn số tiền 6.750.000 đồng bỏ trong túi quần trái thì NLQ1 không dùng để đánh bài), còn NLQ2, NLQ3 và K thì để tiền trong túi, nếu thắng thì bỏ tiền vào, thua thì lấy tiền ra chung cho NLQ1. Bốn người chơi được vài ván bài, đến khoảng 15 giờ 15 phút thì bị Công an xã An Thạnh Tây đến bắt quả tang, khi Công an đến thì NLQ1 bỏ chạy, bỏ lại số tiền dùng để đánh bài dưới chân NLQ1 là 300.000 đồng, còn số tiền 6.750.000 đồng NLQ1 bỏ trong túi quần trái thì bị rơi ra ngoài gần chỗ đánh bài. Công an đã thu được tiền của NLQ1 tổng cộng là 7.050.000 đồng (trong đó tiền dùng để đánh bài là 300.000 đồng, tiền không dùng để đánh bài là 6.750.000 đồng); tiền của K là 118.000 đồng; tiền của NLQ2 là 583.000 đồng; tiền của NLQ3 là 11.000 đồng, tất cả tiền của NLQ1, NLQ3 và K đều là tiền dùng để đánh bài. Như vậy tổng cộng số tiền mà K, NLQ1, NLQ2 và NLQ3 dùng để đánh bài là 1.012.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 02-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 2, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Tuyên bố bị cáo Trương Huỳnh K phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Trương Huỳnh K 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày 02- 6-2020.
Giao bị cáo Trương Huỳnh K cho Ủy ban nhân dân xã An Thạnh Tây huyện C, tỉnh Sóc Trăng để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Hình phạt bổ sung: xử phạt bị cáo Trương Huỳnh K số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKSST, ngày 29-6-2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không cho bị cáo Trương Huỳnh K hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trương Huỳnh K trình bày: Đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKSST, ngày 29-6-2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không cho bị cáo Trương Huỳnh K hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của kháng nghị và phạm vi xét xử phúc thẩm: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKSST ngày 29-6-2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng gửi đến Tòa án nhân dân huyện C vào ngày 30-6-2020 là đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, nội dung kháng nghị theo quy định tại các điều 336 và 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm tiến hành xem xét giải quyết kháng nghị theo quy định.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trương Huỳnh K: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận, vào khoảng 15 giờ ngày 07-01-2020, bị cáo Trương Huỳnh K tham gia đánh bài ấn độ ăn thua bằng tiền với NLQ1, NLQ2 và NLQ3 tại quán cà phê của bị cáo K. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày bị Công an bắt quả tang thu giữ số tiền dùng để đánh bạc là 1.012.000 đồng; Đồng thời bị cáo khai nhận, bị cáo có 01 tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc vào ngày 21-5-2019. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận và xử phạt bị cáo về tội danh, khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát về việc không cho bị cáo K hưởng án treo: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét, áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội là người có công với cách mạng, quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo với mức án 06 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo có 01 tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc nên đối với bị cáo là người có nhân thân xấu, không đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, việc Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo có nhân thân tốt và áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng án treo là không đúng quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc không cho bị cáo Trương Huỳnh K hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); sửa phần áp dụng điều luật và quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trương Huỳnh K.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Huỳnh K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 06/QĐ-VKSST ngày 29-6-2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đối với bị cáo Trương Huỳnh K. Sửa phần áp dụng điều luật và quyết định hình phạt đối với bị cáo Trương Huỳnh K tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST ngày 02-6-2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
2. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trương Huỳnh K 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo Trương Huỳnh K số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Huỳnh K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01) - TAND huyện C (02); - VKSND huyện C (01); - CQĐT - Công an huyện C (01); - CQTHAHS-Công an C (01); - Chi cục THADS huyện C (01); - Bị cáo; (01). - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01); - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Sơ Tư pháp (01); - Lưu hs, THS (04); | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký và đóng dấu Nguyễn Thành Hữu |