- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Và khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2020/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 5 - 2020 V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN THỊ XÃ LONG MỸ- TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân.
- Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Trúc Linh.
Bà Hồ Thị Út
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ.
Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc E, sinh năm: 1965
Địa chỉ cư trú: Khu vực H, phường T, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1969.
Địa chỉ cư trú: Khu vực H, phường T, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc E trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn B tổ chức lễ cưới vào tháng 8/1987, nhưng không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân do bà và ông B tự nguyện, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 1999 thì phát sinh mâu thuẫn, ông B và bà E đã ly thân từ năm 1999 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
Về con chung: Ông B và bà E có 2 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ D (nữ) sinh ngày 05/05/1991 và Nguyễn Thị Xuân M (nữ) sinh ngày 07/10/1999. Các con đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Ông B bà E đã tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình thu thập chứng cứ bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Trần Thị Ngọc E về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản. Ông và bà E chung sống đến năm 1999 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, nên bà E yêu cầu ly hôn ông B cũng đồng ý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông B.
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc E và ông Nguyễn Văn B chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 8/1987, nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”.
Bà E và ông B có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng chung sống kéo dài cho đến nay vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Nay bà Trần Thị Ngọc E yêu cầu xin ly hôn.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này”. Do vậy, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Ngọc E và ông Nguyễn Văn B.
Về con chung: Bà E và ông B có 02 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ D (nữ) sinh ngày 05/05/1991 và Nguyễn Thị Xuân M (nữ) sinh ngày 07/10/1999, đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xE xét.
Về tài sản chung: Bà E và ông B đã tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên không xE xét.
Về nợ chung: không phát sinh, nên không xE xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Trần Thị Ngọc
E phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Và khoản 1 Điều 14; Khoản 2 Điều 53; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Không công nhận bà Trần Thị Ngọc E và ông Nguyễn Văn B là vợ chồng.
Về con chung: Nguyễn Thị Mỹ D (nữ) sinh ngày 05/05/1991 và Nguyễn Thị Xuân M (nữ) sinh ngày 07/10/1999, đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Đã tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không phát sinh, nên không xem xét.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc E phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng), được chuyển 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí chị E đã nộp theo biên lai thu số 0000341 ngày 27 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ thành án phí sơ thẩm, bà E đã nộp xong.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 07/5/2020. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú của bị đơn Nguyễn Văn B.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - VKSND thị xã Long Mỹ; - Chi cục THADS TX Long Mỹ; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |