- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Nguyên đơn: Ông Võ Trang A, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khu dân cư T, thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngã"
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2020/DS-PT Ngày: 07-5-2020 V/v “Tranh chấp buộc di dời, tháo dỡ tài sản gắn liền trên đất, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Bà Lê Th y C u
Ông Đặng Kim Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Th Ph ng Liên, Th ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguy n Th Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử ph c thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2019/TLPT-DS ngày 04/12/2019 về việc “Tranh chấp buộc di dời, tháo dỡ tài sản gắn liền trên đất, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự s thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi b kháng cáo; giữa các đ ng sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Trang A, sinh năm 1959;
Đ a chỉ: Khu dân c T, thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Ông Võ Văn D - sinh năm 1953 và bà Nguy n Th H - sinh năm 1954;
Đ a chỉ: Khu dân c T, thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật s Hà Vĩnh P - Văn phòng Luật s V thuộc Đoàn Luật s tỉnh Quảng Ngãi.
Đ a chỉ: tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Sở Tài nguyên và Môi tr ờng tỉnh Quảng Ngãi;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Văn P, chức vụ: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ngãi - Chi nhánh huyện B. (theo Quy t đ nh ủy quyền số 114/QĐ-STNMT ngày 12/4/2019)
2. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Thi t K, chức vụ: Chủ t ch.
Đ a chỉ: huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Võ Trang A trình bày:
Mẹ ông là bà Tr ng Th H1 (ch t năm 2010) là ng ời có quyền sử dụng đất tại thửa đất số 180, tờ bản đồ số 6, diện tích 570m2, đ ợc Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999. Sau khi mẹ ông ch t, các anh ch em trong gia đình họp thống nhất chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên thửa đất này lại cho ông. Vì vậy, ông làm các thủ tục để cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên ông, nh ng khi ti n hành làm thủ tục cấp đổi thì ông phát hiện vợ chồng ông Võ Văn D, bà Nguy n Th H là hộ liền kề đã lấn sang ph n đất của ông với diện tích lấn chi m là 54,4m2 (đo đạc thực t là 61,3m2). Giới cận ph n đất tranh chấp đ ợc ông xác đ nh nh sau: Phía Đông giáp nhà ông D, bà H; phía Tây và phía Nam giáp đất của ông; phía Bắc giáp đ ờng đi.
Khi phát hiện vợ chồng ông D, bà H lấn sang ph n đất của ông tại thửa đất nêu trên thì ông có làm đ n yêu c u Ủy ban nhân dân xã B giải quy t. Qua các l n xác minh, giải quy t Ủy ban nhân dân xã B đều xác đ nh Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp chồng phàn diện đất của ông sang cho ông D, bà H vào năm 2009. Do đó, ông yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi:
- Buộc ông Võ Văn D và bà Nguy n Th H trả lại cho ông diện tích đất lấn chi m là 61,3m2 thuộc thửa đất số 180, tờ bản đồ số 06 xã B (Nay là thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80 xã B), huyện B, tỉnh Quảng Ngãi và tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản đã xây dựng tích đất lấn chi m.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp cho ông Võ Văn D, bà Nguy n Th H ngày 09/06/2009, số AO 945473, số vào sổ cấp GCN QSDĐ “H” 60665 đối với thửa đất số 304, tờ bản đồ số 11, thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 301 m2.
Tại phiên hòa giải ngày 05/3/2019 ông mới bi t ông D, bà H đã đ ợc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 304, tờ bản đồ số 11 xã B vào năm 2015 thành thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80 xã B, diện tích 264,5m2. Do đó ông thay đổi yêu c u khởi kiện, yêu c u hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 247177, số vào sổ cấp GCN: CS06740, do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng tỉnh Quảng Ngãi cấp cho ông Võ Văn D, bà Nguy n Th H ngày 11/12/2015 đối với thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80 xã B, diện tích 264,5m2.
Trong ph n tranh luận tại phiên tòa s thẩm, ông đề ngh Tòa án chia đôi 61,3m2 đất tranh chấp cho ông 1/2 và vợ chồng ông D, bà H 1/2.
Bị đơn ông Võ Văn D, bà Nguyễn Thị H trình bày:
Nguyên thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, diện tích 264,5m2 tại thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi ông, bà đang sử dụng đ ợc tách ra từ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 6 xã B lập năm 1986. Toàn bộ thửa đất số 18 do ông, bà cố ông D để lại cho ông nội ông D và sau đó giao lại cho cha ông D sử dụng, đ n năm 1985 thì ông D là ng ời trực ti p quản lý, sử dụng ph n diện tích 2.030m2 thuộc thửa đất số 18. Năm 1985 ông Võ Văn D và ông Hồ Xuân G cùng sử dụng và đứng tên kê khai theo Chỉ th 299/TTg. Năm 1994 ông D đăng ký quyền sử dụng đất riêng và đ ợc Ủy ban nhân dân xã B xác nhận ph n diện tích đất 301 m2 là của ông. Năm 2009, ông D đãng ký, kê khai và đ ợc Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ph n diện tích trên thành thửa đất số 304, tờ bản đồ số 11, diện tích 301m2; năm 2015 Sở Tài nguyên và Môi tr ờng tỉnh Quảng Ngãi chỉnh lý và cấp mới cho ông D, bà H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì thửa đất số 304, tờ bản đồ số 11 bi n động thành thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, xã B, diện tích 264,5m2, thửa đất có bi n động giảm diện tích là do sai số trong quá trình đo đạc (Diện tích đo đạc thực t là 266,9m2 là t ng đ ng với diện tích đ ợc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2015).
Ông, bà sử dụng thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, xã B liên tục từ tr ớc ngày miền Nam giải phóng đ n nay. V trí đất mà ông A tranh chấp, cho rằng ông, bà lấn chi m, nguyên tr ớc đây có nhà của mẹ ông D ở từ tr ớc năm 1975. Năm 1985 ông, bà xây nhà trên mới cải tạo nhà cũ của mẹ ông D thành chuồng nuôi heo, gà .
Việc ông A cho rằng ông, bà lấn chi m là không có căn cứ. Ông, bà không đồng ý, yêu c u Tòa án giải quy t đ ng quy đ nh pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân huyện B trình bày:
Về trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn D và bà Nguy n Th H tại thửa đất số 304 tờ bản đồ số 11, diện tích 301 m2 có số phát hành AO 945473 số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất “H” 60665, do ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 09/6/2009 hiện Văn phòng Đăng ký Đất đai - Chi nhánh huyện B l u trữ ch a tìm thấy, vì vậy Ủy ban nhân dân huyện B ch a có c sở khẳng đ nh về trình tự, thủ tục hồ s cấp đ ng hay không.
Theo bản đồ 299/TTg chỉnh lý năm 1998 tại thửa 180, tờ bản đồ số 06, diện tích 510m2, loại đất T do bà Tr ng Th H1 đứng tên và kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1999 (theo bản đồ đo năm 2015 thuộc thửa 178, tờ bản đồ 80, diện tích 571 m2).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi trình bày:
Hồ s cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành BY 247177, số vào sổ cs 06740 cấp ngày 11/12/2015 tại thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, xã B là đ y đủ thủ tục và đ ng theo quy đ nh tại khoản 5 Điều 98 Luật đất đai năm 2013, Điều 76 Ngh đ nh số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Tại bản án dân sự thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 24 tháng 7 năm 2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định:
“Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Trang A về việc: Buộc ông Võ Văn D, bà Nguyễn Thị H tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản đã xây dựng để trả lại cho ông diện tích đất 61,3m2 thuộc thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 247177, số vào sổ cấp GCN: CS06740, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi cấp cho ông Võ Vãn D, bà Nguyễn Thị H ngày 11/12/2015 đối với thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80 xã B, diện tích 264,5m2.
Diện tích 61,3m2 đất tranh chấp thuộc thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi có giới cận như sau:
- Phía Bắc có hai đoạn có độ dài lần lượt là 6.73m và 0.43m giáp đường đất;
- Phía Nam có 4 đoạn, đoạn thứ nhất dài 0.48m giáp thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, xã B của ông D, bà H; 3 đoạn còn lại có độ dài lần lượt là 0.67m, 3.59m và 1.20m giáp thửa đất số 180, tờ bản đồ số 6 xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi đã được ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trương Thị H1;
- Phía Tây có 04 đoạn có độ dài lần lượt là 1.94m, 1.29m, 5.24m, 1.51m giáp thửa đất số 180, tờ bản đồ số 6 xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi đã được ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trương Thị H1;
- Phía Đông có 05 đoạn có độ dài lần lượt là 1.04m, 1.05m, 4.53m, 1.5 lm và 2.04m giáp phần đất còn lại của thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, xã B của ông D, bà H.”
Ngày 01 tháng 8 năm 2019, nguyên đ n ông Võ Trang A làm đ n kháng cáo toàn bộ bản án dân sự s thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Võ Trang A giữ nguyên nội dung kháng cáo, với trình bày:
Bản án s thẩm nhận đ nh rằng “thửa đất số 180 của mẹ nguyên đ n là bà Tr ng Th H1 để lại cho nguyên đ n và thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80 (theo bản đồ đo đạc mới) xã B, huyện B tỉnh Quảng Ngãi của b đ n đều đ ợc tách ra từ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 6 xã B (theo bản đồ 299 năm 1986). Theo sổ mục kê lập năm 1986 thì thửa đất số 18 này do ông Hô Xuân G + D đứng tên, thời điểm này bà H1 mẹ nguyên đ n và ông D cùng là ng ời sử dụng một ph n thửa đất này, nh ng không có tài liệu nào chứng minh diện tích cụ thể, hình thể ph n đất mỗi ng ời đang sử dụng”, đây là nhận đ nh không đ ng khi đánh giá chứng cứ chỉ dừng lại ở bản đồ đo đạc 299 (năm 1986) mà không ti p tục xem xét bản đồ 299 đ ợc chỉnh lý năm 1998, tại bản đồ chỉnh lý này thửa đất số 18 đ ợc chia ra làm 04 thửa đất riêng biệt, rõ ràng gồm: thửa đất số 180 diện tích 510m2 loại đất thổ c , trên đất có nhà ở của bà H1 mẹ của nguyên đ n thửa đất số 179, diện tích 200m loại đất thổ c , trên đất có nhà ở của mẹ ông D; thửa đất số 963, diện tích 200m2 loại đất hoang; diện tích đất còn lại vẫn đ ợc đánh số thửa là thửa số 18 nh ng diện tích chi còn lại 980m2. Đây là bản đồ đ ợc chỉnh lý theo hiện trạng sử dụng đất của ng ời dân tại thời điểm đó, việc chỉnh lý di n ra trong toàn đ a bàn huyện B chứ không riêng gì xã B, có thành lập hội đồng xét duyệt bài bản, và là căn cứ để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hình thể thửa đất 180 trong bản đồ 299 chính lý năm 1998 không thay đổi so với hình thể trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H1 vào năm 1999.
Tòa án cấp s thẩm căn cứ vào đ n xin xác nhận đất nhà ở (b t lục 78) của ông D tự xin xác nhận, không có biên bản hiện trạng, không có hiệp th ng ranh mốc giới giữa các hộ liền kề (chỉ có sự xác nhận của UBND xã) mà nhận đ nh chứng cứ này là c sở để khẳng đ nh việc sử dụng đất theo hiện trạng của ông D thì đây là nhận đ nh không phù hợp.
Tại Biên bản hòa giải ngày 26/6/2017 của UBND xã B (b t lục số 17, 18) và Biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ điều thể hiện việc xây dựng chuồng heo, chuồng gà của ông D từ năm 1991 là do ông D tự trình bày chứ không có c sở nào khẳng đ nh ông D đã xây dựng công trình kiên cố từ năm 1991.
Vì vậy, đề ngh Hội đồng xét xử sửa bản án s thẩm, chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đ n.
uật sư à Vĩnh P - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Theo bản đồ 299 lập năm 1986, sổ mục kê ruộng đất năm 1986, Đ n xin xác nhận đất nhà ở ngày 25/12/1994, diện tích đất ông D sử dụng đ ợc Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009 có số thửa 304, tờ bản đồ số 11, diện tích 301m2 , thời gian sau có điều chỉnh diện tích đất ông D còn 264,5m2 .
Toàn bộ tài sản nhà ở vật ki n tr c của ông D đều xây dựng từ tr ớc năm 1995 và đều nằm trên thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, diện tích 264,5m2 , thời điểm bà H1 còn sống, bà không khi u nại, nh vậy bà H1 thống nhất hiện trạng sử dụng đất giữa hai hộ.
Hiện tại thực t sử dụng đất của ông A nhiều h n diện tích đất ghi trong bản đồ đo năm 2015 là 7,5m2. Do đó, ông D không lấn chi m đất của bà H1.
Vì vậy, đề ngh Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của ông A, giữ nguyên bản án s thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà N ng phát biểu:
Thửa đất số 180, tờ bản đồ số 6, diện tích 510m2 của bà Tr ng Th H1 đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1999. Tranh chấp phát sinh sau khi ông A nhận thừa k quyền sử dụng đất. Theo bản đồ chỉnh lý năm 1998 thửa 180, diện tích 510m2, thửa đất số 179 diện tích 210m2. Năm 1994, ông D có đ n xin xác nhận đất nhà ở, diện tích đất 301m2, có v s đồ thửa đất. Theo biên bản xem xét thẩm đ nh tại chổ, ông D xây dựng công trình tr ớc khi Nhà n ớc lập bản đồ chỉnh lý năm 1998. Nh vậy, bản đồ năm 1998 thể hiện không chính xác hiện trạng sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H1 năm 1999 có sai sót về hình thể thửa đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông D năm 2015 là đ ng thực t sử dụng đất của ông D.
Vì vậy, đề ngh Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án s thẩm.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Thửa đất số 180, tờ bản đồ số 6, diện tích 510m2 của bà Tr ng Th H1 đ ợc tách ra từ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 6 xã B, lập năm 1986 có diện tích 2030m2; theo bản đồ chỉnh lý năm 1998 (b t lục số 96) thửa 180, diện tích 510m2; theo bản đồ 2001, thửa đất số 303, tờ bản đồ số 11, diện tích 547,7m2; theo bản đồ năm 2015, thửa đất số 178, tờ bản đồ số 80, diện tích 571m2.
[2] Thửa đất số 179, tờ bản đồ số 6, diện tích 200m2 của ông Võ Văn D cũng đ ợc tách ra từ thửa đất số 18, tờ bản đồ số 6 xã B, lập năm 1986 có diện tích 2030m2 ; theo bản đồ 2001, thửa đất số 304, tờ bản đồ số 11, diện tích 301m2, đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D năm 2009; theo bản đồ năm 2015, thửa đất số 138, tờ bản đồ số 80, diện tích 264,5m2.
[3] Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H1 năm 1999, ranh giới giữa hai thửa đất là một đ ờng thẳng, phù hợp với tờ bản đồ chỉnh lý năm 1998 nh ng diện tích là 570m2.
[4] Tại Đ n xin xác nhận đất nhà ở ngày 25/12/1994, đ ợc Ủy ban nhân dân xã B xác nhận (b t lục số 78), ông D khai diện tích đất là 301m2, trong đ n này có v s đồ thửa đất, không ghi rõ h ớng s đồ, tuy nhiên s đồ thể hiện một cạnh là đ ờng gấp kh c nh hiện trạng sử dụng đất của b đ n; việc xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B thực hiện tr ớc khi có tờ bản đồ chỉnh lý năm 1998 và tr ớc khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1. Năm 2009, ông D đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích thửa đất 301m2, hình thể thửa đất thể hiện cạnh phía Tây là đ ờng gấp kh c, phù hợp với s đồ tại Đ n xin xác nhận đất nhà ở ngày 25/12/1994 và hiện trạng sử dụng đất của ông D.
[5] Từ năm 1991 đ n năm 1992 ông D đã xây dựng các công trình trên diện tích đất tranh chấp tr ớc khi bà H1 đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H1 khi còn sống và những ng ời thừa k của bà H1, trong đó có nguyên đ n không có tranh chấp với ông D. Theo biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 17/10/2018 (b t lục số 120, 121), ông D xây dựng các công trình trên diện tích 61,3m2 đất tranh chấp từ năm 1991 đ n 1992, tr ớc thời điểm Nhà n ớc lập tờ bản đồ chỉnh lý vào năm 1998.
[6] Nh vậy, tờ bản đồ chỉnh lý năm 1998 (b t lục số 96) thể hiện không chính xác hiện trạng ranh giới giữa thửa đất của bà H1 và của ông D. Về diện tích của hai thửa đất, tờ bản đồ năm 1998 cũng không thể hiện chính xác, vì n u cho rằng diện tích đất tranh chấp 61,3m2 là của bà H1 thì diện tích thửa đất số 178, là 632,3m2 (571 m2 + 61,3m2), trong khi diện tích đất ghi trên tờ bản đồ năm 1998 chỉ có 510m2. Do đó, có căn cứ xác đ nh ranh giới giữa hai thửa đất là một đ ờng gấp kh c và không thay đổi trong suốt quá trình sử dụng đất. Việc Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1999 bao gồm cả ph n diện tích đất tranh chấp mà ông D đang sử dụng cho bà H1 là có sai sót. Ngày 09/6/2009, Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D trong đó có diện tích đất tranh chấp là đ ng thực t sử dụng đất của ông D.
[7] Tòa án cấp s thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đ n là có căn cứ, đ ng pháp luật. Vì vậy, không có c sở chấp nhận kháng cáo của ông Võ Trang A, c n giữ nguyên bản án s thẩm.
[8] Do kháng cáo không đ ợc chấp nhận nên ông Võ Trang A phải ch u án phí dân sự ph c thẩm. Tuy nhiên, ông A là ng ời cao tuổi và có đ n đề ngh , nên đ ợc mi n án phí dân sự ph c thẩm theo quy đ nh tại Điều 12 và Điều 14 Ngh quy t 326/2016/UBTVQH14.
Vì các l trên;
QU T Đ NH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Trang A;
2. Giữ nguyên bản án dân sự s thẩm số 27/2019/DS-ST ngày 24 tháng 7
năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
3. n phí dân sự ph c thẩm:
Ông Võ Trang A đ ợc mi n án phí dân sự ph c thẩm.
Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi; - Những ng ời tham gia tố tụng; - L u HS, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ê Tự |